Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016

Quy định mới về việc xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt

Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 24/2016/TT-BTNMTquy định việc xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 25/10/2016.
(Ảnh minh họa: Bích Liên)
Theo đó, thông tư quy định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoat được xác định trên nguyên tắc: đảm bảo ngăn ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực đến chất lượng nguồn nước của công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt và các chức năng khác của nguồn nước; phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất, địa chất thuỷ văn, chế độ dòng chảy, đặc điểm nguồn nước, quy mô khai thác, sơ đồ bố trí công trình và các đặc điểm khác liên quan đến việc bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt; phù hợp với hiện trạng sử dụng đất và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của khu vực có công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt.

Công trình khai thác nước để cấp nước cho sinh hoạt hoặc cấp nước cho nhiều mục đích, trong đó có cấp nước cho sinh hoạt phải xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, bao gồm: công trình khai thác nước mặt với quy mô trên 100 m3/ngày đêm và công trình khai thác nước dưới đất với quy mô trên 10 m3/ngày đêm.

Với khai thác nước mặt, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh của các công trình khai thác nước mặt trên sông, suối, kênh, rạch để cấp cho sinh hoạt bao gồm phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối, kênh, rạch mà công trình đó khai thác và vùng thượng lưu, hạ lưu tính từ vị trí khai thác nước của công trình.

Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô trên 100 m3/ngày đêm đến dưới 50.000 m3/ngày đêm thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 1.000 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi; 800 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.

Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô từ 50.000 m3/ngày đêm trở lên thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 1.500 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi; 1.000 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.

Các công trình khai thác nước mặt từ hồ chứa để cấp cho sinh hoạt thì phạm vi bảo hộ vệ sinh tính từ vị trí khai thác nước của công trình và quy định: không nhỏ hơn 1.500 m đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa trên sông, suối và không vượt quá chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước của hồ chứa; toàn bộ khu vực lòng hồ đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa.

Với công trình khai thác nước dưới đất để cấp cho sinh hoạt có quy mô trên 10m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 20 m tính từ miệng giếng. Với công trình có quy mô từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 30m tính từ miệng giếng.

Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sinh sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; tổ chức trực tiếp quản lý, vận hành công trình khai thác nước; Sở TN&MT và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phối hợp xác định, công bố công khai vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt và thực hiện các biện pháp bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt./.
BL
Nguồn: Dangcongsan.vn

Thứ Ba, 13 tháng 9, 2016

Vỡ đường ống thủy điện Sông Bung 2, nhiều công nhân bị cuốn trôi

Khoảng 17h ngày 13/9, đường ống dẫn nước từ đập về nhà máy thủy điện Sông Bung 2 (Nam Giang, Quảng Nam) bị vỡ, cuốn trôi nhiều công nhân.
Nước lũ và nước từ đường ống dẫn tràn vào nhà dân bên dưới đập.
Khoảng 17h, lũ thượng nguồn đổ về gây tràn, vỡ đường ống dẫn nước từ đập về nhà máy thủy điện Sông Bung 2 (xã Zuôih, Nam Giang). Dòng nước đỏ quạch cuốn trôi 2 máy múc đang làm việc dưới thân đập khiến 2 công nhân mất tích.

16 người khác làm việc gần đó hiện chưa có thông tin do địa bàn xa, địa hình đồi núi hiểm trở, lực lượng cứu hộ chưa thể tiếp cận.

Ông Ngô Việt Hải, Tổng giám đốc Tổng công ty Phát điện 2 (chủ đầu tư Thủy điện Sông Bung 2) cho biết đây là sự cố nước tràn qua cống dẫn dòng ở dưới thân đập thủy điện, với khoảng 13 triệu m3. Đơn vị đóng cống dẫn dòng để tích nước hồ chứa chuẩn bị phát điện. Tuy nhiên, mấy ngày qua mưa bão, lũ lớn về nên nước tràn xuống phía hạ lưu.

"Sau sự cố, toàn bộ công trình chính an toàn", ông Hải nói và cho biết 2 công nhân vận hành máy múc của nhà thầu mất tích do lũ tràn qua nhanh, không kịp chạy. Phía chủ đầu tư chưa ghi nhận thiệt hại về người với dân cư địa phương. “Lúc đầu nước đột ngột chảy như lũ quét, sau đó không có vấn đề gì nữa. Chúng tôi đang tập trung khắc phục, xử lý”, ông Hải thông tin.
Tổng quan khu nhà máy thuỷ điện Sông Bung 2, thời điểm tháng 7/2015. Ảnh: Ban quản lý dự án TĐSB2
Đến 21h30, ông Huỳnh Khánh Toàn, Phó chủ tịch tỉnh Quảng Nam cho hay, còn khoảng 10 km nữa là đoàn công tác sẽ tiếp cận hiện trường. Nguyên nhân bước đầu là nước lũ từ thượng nguồn đổ về với lưu lượng rất lớn (theo hệ thống quan trắc tự động khoảng 560 m3/s), ảnh hưởng trực tiếp đến đường ống dẫn nước từ đập vào nhà máy và cuốn trôi 2 công nhân.

Phó chủ tịch tỉnh khẳng định đến nay toàn bộ công trình thủy điện vẫn an toàn và bác bỏ thông tin một số người dân đi đãi vàng dưới khu vực hạ lưu bị nước tràn cuốn mất tích.

Dự kiến 9h sáng 14/9, UBND tỉnh sẽ chủ trì cuộc họp báo để thông tin vụ việc.
Nhóm phóng viên
Theo vnexpress.net
Nhà máy thủy điện Sông Bung 2 (xã Zuôih, huyện Nam Giang) nằm trong bậc thang thủy điện thuộc hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, khởi công năm 2012, công suất lắp đặt 100 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 425,57 triệu kWh. Tổng mức đầu tư công trình hơn 3.600 tỷ đồng, đến tháng 5/2016 bị đội vốn lên 1.600 tỷ đồng. Cuối tháng 8, thủy điện Sông Bung 2 bắt đầu tích nước. Quảng Nam hiện là địa phương có mật độ thủy điện lớn nhất nước với hơn 40 công trình.

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016

Đập thuỷ điện: Lợi bất cập hại?

Thuỷ điện được coi là một trong những nguồn năng lượng tái sinh sạch nhất và rẻ nhất, có sẵn để sản xuất trên quy mô lớn. Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ, về mặt môi trường cái hại của thuỷ địên khá lớn, đôi lúc cái hại hơn lợi.

Trước khi, trong khi và sau khi xây đập xong, thiên nhiên bị phá hoại tỷ lệ thuận với quy mô của đập. Từ đó thường xuyên tồn tại nhưng nguy cơ xảy ra các tai nạn vào bất cứ lúc nào.
Các đập thủy điện ảnh hưởng đến môi trường nhiều hơn người ta vẫn nghĩ. (Ảnh: Internet).
Trước khi xây đập

Trước hết, địa điểm thích hợp để xây đập thủy điện thường là miền núi có sông chảy qua. Tại đây có hệ sinh thái rừng với động thực vật và người dân đang sống trong vùng. Để xây đập và hồ chứa nước phải khai quang một diện tích rừng rất lớn, kể cả vùng rừng xung quanh. Chính điều này sẽ huỷ hoại phần lớn Thiên nhiên, làm mất đi môi trường sinh sống lâu đời của động thực vật, trong đó có những loài đặc hữu, quý hiếm.

Việc xây đập và hồ chưa nước buộc dân địa phương phải di chuyển nơi sinh sống. Cuộc sống của họ bị đảo lộn. Nền văn hoá và phong cách sống của họ không thể bảo tồn được như xưa nữa. Trong đa số trường hợp, nơi ở mới không thuận lợi bằng nơi họ đang sống và việc đền bù không thể bù đắp lại được những thiệt hại và tổn thất mà họ phải chịu đựng. Tất cả phải làm lại từ đầu trên vùng đất mới với những điều kiện rất khó khăn và không phải có thể giải quyết nhanh chóng.

Khi con đập hoạt động

Tại địa điểm xây dựng, sông không tồn tại nữa, một hồ nhân tạo khổng lồ xuất hiện. Với điều kiện nước đứng yên của những hồ nước mới sẽ thu hút các côn trùng lan truyền bệnh tật. Những người dân sống gần đập sẽ phải đối phó với nguy cơ lớn đối với sức khoẻ.

Vì các đập thường được xây trên núi, nên nhiều vụ lở đất và trượt đất đã xảy ra. Khi đột nhiên xây những con đập để giữ nước ở độ cao hàng trăm, có khi hàng nghìn mét so với mặt biển nền đất sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều này đã xảy ra đối với con đập Vajont vào năm 1963, khiến 2000 người bị chết do đất trượt.

Phục hồi khó hơn xây dựng

Thiệt hại đã gây ra khi phá rừng, đào hồ chứa nước làm Thiên nhiên khó có thể phục hồi. Khi sinh thái bị phá huỷ cần hàng trăm năm mới xây dựng lại được một sự cân bằng mới và cũng có thể vĩnh viễn bị huỷ hoại.

Thế nhưng người ta vẫn ngăn sông đắp đập để đáp ứng các nhu cầu của công nghiệp. Làm thế nào để có phương án thay thế trước khi chúng ta phá huỷ những con sông là điều mà các nhà chiến lược phải cân nhắc một cách toàn diện.

Theo Vietnamnet

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Chuyên gia Việt cảnh báo tác hại khi Trung Quốc 'giữ lũ' Mekong

Chuyên gia hàng đầu về Mekong khẳng định các đập thủy điện của Trung Quốc giữ lại nước nhằm giảm lũ ở hạ nguồn gây tác động xấu đối với Việt Nam.

"Mấy năm nay đồng bằng sông Cửu Long bị mất lũ, là điều rất nguy hại. Chúng ta cần hiểu khái niệm lũ đẹp, tức là lũ giúp điều hoà nguồn nước vào đồng bằng, làm vệ sinh cho đồng ruộng. Lũ cũng sẽ mang phù sa cho trồng trọt, nguồn thức ăn trôi nổi cho nhiều loại cá và giúp giảm xâm nhập mặn ở khu vực này", ông  Đào Trọng Tứ, nguyên phó tổng thư ký Uỷ ban sông Mekong Việt Nam, trao đổi với VnExpress.

Theo Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ, mực nước vùng đầu nguồn sông Cửu Long thời điểm giữa tháng 8 rất thấp. Trên sông Tiền, tại Tân Châu mực nước cao nhất chỉ 1,36 m; trên sông Hậu tại Châu Đốc là 1,20 m; thấp hơn cùng kỳ năm trước khoảng 40-50 cm.

"Đến nay, chưa có dấu hiệu gì báo lũ về vùng đầu nguồn", ông Khương Lê Bình, Giám đốc Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đồng Tháp, cho biết.

Là một chuyên gia hàng đầu về vấn đề sông Mekong, ông Tứ cho biết các đập thuỷ điện đã giữ lại một lượng lớn phù sa của con sông, trong khi ước tính 50% phù sa của đồng bằng sông Cửu Long là từ trên thượng nguồn đổ về.

Về phía Trung Quốc, các quan chức nước này khi trao đổi với một nhóm phóng viên Việt Nam thăm một số đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong hồi giữa tháng 6, cho biết Trung Quốc hiện có tổng cộng 6 đập thủy điện đang vận hành ở khu vực này, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là Công Quả Kiều, Tiểu Loan, Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Nọa Trát Độ và Cảnh Hồng.

Ông Vương Hồng Minh, Vụ hợp tác quốc tế, Khoa học và công nghệ, Bộ Thủy lợi Trung Quốc, cho hay đặc điểm chung của các đập thủy điện là dùng để phát điện chứ không phải là "tiêu thụ nước". Trung Quốc giữ lại nước trên thượng nguồn nhưng sau đó vẫn xả xuống hạ du, chỉ làm "thay đổi quy trình chứ không làm mất nước đi nơi khác".

"Khi các quốc gia ở hạ lưu đang vào mùa mưa, họ không cần nhiều nước, lúc đó Trung Quốc sẽ tích nước để nhà máy điện hoạt động. Khi vào mùa khô, Trung Quốc sẽ xả nước. Quy trình này có tác dụng ngăn lũ, chống hạn cho các nước hạ du", ông Vương nói.

Phản bác lại ý kiến này, ông Tứ đánh giá khi một quốc gia tích trữ nước của dòng sông tự nhiên thì cơ chế xả nước sẽ vận hành theo phụ tải điện của nước đó.

"Việc xây đập thủy điện không phải làm để xả nước, nếu không tích nước thì không thể phát điện. Câu chuyện đó với đồng bằng sông Cửu Long là gây nên tình trạng bị mất lũ", ông Tứ nói.

Thiếu cơ chế chia sẻ thông tin

Là người theo dõi tình hình ở sông Mekong nhiều năm, ông Tứ cho biết một trong những vấn đề chính ở khu vực này là Trung Quốc vẫn chưa chia sẻ thông tin về cơ chế hoạt động của các đập thủy điện của họ với 4 nước thuộc hạ lưu, gồm Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Lào. Đây là các nước thành viên của Ủy hội sông Mekong (MRC). Điều đó khiến những nước hạ nguồn bị động trong việc sử dụng nguồn nước, nhất là khi xảy ra tình trạng hạn hán trong mùa khô.

Giải thích về việc này, ông Vương Hồng Minh, Bộ Thủy lợi Trung Quốc cho hay Bắc Kinh có chia sẻ thông tin trong mùa lũ với các nước MRC, nhưng họ không làm việc này vào mùa khô.
Đập thuỷ điện Tiểu Loan của Trung Quốc có tổng dung tích 15 tỷ m3.
"Vào mùa khô thông tin về lưu lượng ở thượng nguồn bị tác động bởi các yếu tố như độ bốc hơi, nước ngầm, lượng mưa nên không có nhiều tác dụng cho dự báo. Theo thông lệ quốc tế thì chúng tôi không cung cấp thông tin vào mùa này", ông Vương nói.

Không đồng tình với lập luận này, ông Tứ cho hay thông tin về hoạt động của các đập thuỷ điện cần được chia sẻ cả trong mùa khô và mùa mưa. Hiện các nước trên thế giới áp dụng Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy năm 1997. Tức là việc chia sẻ thông tin cần được đảm bảo cho hợp tác quanh năm giữa các nước.

Cựu quan chức Ủy ban sông Mekong Việt Nam cũng lưu ý cần xem xét việc các đập thủy điện của Trung Quốc có hồ điều tiết loại gì. Nếu là hồ điều tiết nhiều năm thì lượng nước được tích lại không phải trong một năm mà là cho nhiều năm.

Đánh giá về cơ chế đối thoại trong hợp tác Lan Thương - Mekong được hình thành vào tháng 3 năm nay, ông Tứ nói việc này phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ của các quốc gia với nhau. Ông mong muốn Trung Quốc thời gian tới sẽ tham gia MRC để cùng các nước hạ lưu xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nước. Hiện Trung Quốc và Myanmar chưa phải thành viên Ủy hội này. Khi cơ chế Lan Thương - Mekong chưa có các hiệp định cụ thể, vấn đề quản lý nước chỉ mang ý nghĩa hợp tác chung chung, trong khi hợp tác phát triển bền vững ở Mekong còn rất nhiều thách thức.

"Với các dòng sông quốc tế, việc các nước có cơ chế hợp tác là điều rất quan trọng, các nước không thể nói anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Các bên cần hợp tác trên tinh thần cùng có lợi, trên cơ sở thiện chí và dựa trên luật pháp quốc tế. Tôi hy vọng cơ chế Lan Thương - Mekong sẽ giúp khắc phục những thiếu sót về hợp tác giữa Trung Quốc và các nước thuộc hạ lưu", ông Tứ nói.
Tác giả bài viết: Theo Việt Anh

Nguồn tin: vnexpress.net

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2016

Khám phá 2016: Thủy điện Hòa Bình có lõi đập bằng đất sét

Nhà máy thủy điện Hòa Bình - công trình thủy điện hàng đầu của Việt Nam - đã được chọn để đưa vào những số phát sóng đầu tiên của chương trình. Với sự hỗ trợ của những thiết bị ghi hình đặc biệt như Flying-cam, những tập đầu của Khám phá 2016 giúp khán giả chiêm ngưỡng vẻ đẹp khoa học - công nghệ tiềm ẩn bên trong công trình phức tạp bậc nhất thể kỷ XX tại Việt Nam.

Qua tập đầu tiên của chương trình, có thể thấy sông Đà nằm trong vùng kiến tạo địa chất phức tạp, trải qua đại bàn các tỉnh Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình - những khu vực có hoạt động động đất mạnh nhất Việt Nam. Với vị trí đặt đập tại Hòa Bình, nếu lựa chọn đập bằng bê tông sẽ gặp phải nhiều trở ngại do nền đập ở lòng sông là một lớp phù sa, sỏi cuội có độ dày lên tới hơn 60 m với kết cấu không ổn định.


Theo tính toán, khu vực đặt đập thủy điện Hòa Bình có thể gặp động đất lên tới cấp 7, cấp 8 khiến đập bê tông với kết cấu cứng khả năng bị nứt gãy. Ngoài ra, kinh phí cho đập bê tông quá lớn, lượng thép đáp ứng cho công trình vào thời điểm xây đập gặp nhiều khó khăn. Do đó, các kiến trúc sư và chuyên gia đã quyết định xây dựng đập bằng vật liệu địa phương là đá đổ với lõi giữa bằng đất sét.

Nguồn http://vtv.vn/

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2016

Thanh tra trên cả nước các dự án có xả thải

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát các dự án có xả thải trên phạm vi cả nước, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà đã ký ban hành Quyết định 1620/QĐ-BTNMT về việc phê duyệt Kế hoạch thanh tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước tại các dự án có xả thải trên phạm vi cả nước. Dự kiến sẽ bắt đầu triển khai các đoàn thanh tra vào đầu tháng 8/2016.

Mục đích của đợt thanh tra toàn diện lần này nhằm đánh giá một cách toàn diện công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và tài nguyên nước của các cơ quan hành chính nhà nước; các cơ quan chuyên môn có liên quan.

Từ đó đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chế định pháp luật nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong quá trình thẩm định, xét duyệt và thực hiện dự án đầu tư, đồng thời, đề xuất các giải pháp phù hợp để khắc phục những tồn tại bảo đảm để doanh nghiệp chấp hành nghiêm pháp luật gắn liền với phát triển bền vững.

Qua đó phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước của các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh có xả thải ra môi trường và đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật.

Đồng thời đổi mới một cách mạnh mẽ công tác thanh tra về bảo vệ môi trường và tài nguyên nước, tạo bước đột phá trong hoạt động thanh tra, để hoạt động thanh tra trở thành công cụ sắc bén, hữu hiệu, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường.

Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức ở Trung ương và địa phương trong việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý đối với các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh có xả thải ra môi trường.

Đối tượng thanh tra là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh có xả thải ra môi trường (tập trung chính vào các cơ sở sản xuất công nghiệp có nguồn xả nước thải từ 200m3/ngày đêm trở lên, có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường biển, lưu vực sông trên địa bàn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương).

Đối tượng thanh tra cụ thể sẽ được nêu tại Quyết định thành lập đoàn thanh tra; trong quá trình thanh tra có thể bổ sung các đối tượng khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm hoặc có ý kiến chỉ đạo của cấp có thẩm quyền.

Phạm vi thanh tra được tiến hành trên địa bàn toàn quốc, thời kỳ thanh tra sẽ từ ngày có quyết định thành lập các tổ chức sản xuất, kinh doanh đến thời điểm thanh tra; và thời hạn thực hiện cuộc thanh tra được thực hiện theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010.

Nội dung thanh tra tập trung vào việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực môi trường và tài nguyên nước của các cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan chuyên môn có liên quan và của các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh có xả thải ra môi trường.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên va Môi trường sẽ ban hành Quyết định thành lập 3 đoàn thanh tra đối với các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh có nguồn xả nước thải từ 500m3/ngày đêm trở lên tại 23 tỉnh: Bắc Giang, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Giang, Hà Nam, Lào Cai, Lạng Sơn, Phú Thọ, Sơn La, Tuyên Quang, Đắk Nông, Gia Lai, Hà Tĩnh, Kon Tum, Lâm Đồng, Quảng Bình, Thanh Hóa, An Giang, Bến Tre, Cà Mau, Sóc Trăng, Tây Ninh và Vĩnh Long.

Bộ trưởng cũng yêu cầu Thanh tra Bộ, Tổng cục Môi trường, Cục Quản lý Tài nguyên nước căn cứ nội dung Kế hoạch này, chủ động lồng ghép nội dung thanh tra đối với đối tượng là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh có nguồn xả nước thải từ 500m3/ngày đêm trở lên.

Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, tổng hợp các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh có nguồn xả nước thải từ 200m3/ngày đêm trở lên (trừ các đối tượng đã được đoàn thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường thanh tra trong năm 2016), để đề xuất đưa vào kế hoạch thanh tra của Sở trong năm 2017.

C ác đoàn thanh tra phải báo cáo kết quả thanh tra về Thanh tra Bộ chậm nhất là 15 ngày, kể từ ngày kết thúc thanh tra để tổng hợp, báo cáo Bộ trưởng. Dự kiến cuối tháng 10/2016 sẽ hoàn thành tổng hợp báo cáo kết luận thanh tra; tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm và tổ chức họp báo công bố kết quả thanh tra./.
Tác giả bài viết: Theo Nhật Minh/TTXVN

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016

Kinh nghiệm thoát nước từ Hà Lan

Trong vài năm trở lại đây Việt Nam và rất nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á cũng như các nước trên thế giới bị tác động rất lớn do biến đổi khí hậu như triều cường, xâm ngập mặn. Hầu như năm nào cũng bị bão lũ gây ảnh hưởng dẫn đến tình trạng úng ngập tại các đô thị. Các tỉnh Nam bộ chịu nhiều thiệt hại bởi thiên tai khá khốc liệt như xâm ngập mặn, nước biển dâng. 

Thực trạng thoát nước đô thị ở Việt Nam
Phối cảnh dự án cống thoát nước Tân Thuận.
Hệ thống thoát nước hiện có ở các đô thị nước ta từ loại IV trở lên là hệ thống cống chung gồm ống bê tông đúc sẵn, mương gạch đậy nắp đan bê tông, mương đất hở, các kênh mương và hệ thống ao, hồ điều hoà. Hệ thống cống được xây dựng tuỳ tiện không theo quy hoạch phát triển của đô thị, nhiều đoạn cống có tiết diện nhỏ hơn yêu cầu lại không được bảo dưỡng nên khả năng làm việc kém, cần được thay thế hoặc sửa chữa nâng cấp, phần lớn các đoạn cống và mương không có độ dốc phù hợp để tự làm sạch và không có thiết bị để tránh bốc mùi khi thời tiết khô.

Mức độ bao phủ của dịch vụ thoát nước chưa được điều tra khảo sát nhưng theo ước tính của các chuyên gia của Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng) và của Hội Cấp thoát nước Việt Nam thì thấp hơn mức độ bao phủ của dịch vụ cấp nước, bình quân vào khoảng 30-40%.

Trên hệ thống sông Hồng có hàng loạt hồ chứa có nhiệm vụ phòng lũ, chống lũ có thể chứa nhiều tỷ khối nước, lại có hệ thống đê bảo vệ và những khu phân chậm lũ, nếu lũ lớn uy hiếp Hà Nội, có thể phân lũ vào các khu đó. Bởi vậy, vấn đề phòng lũ của Hà Nội là vận hành tốt hệ thống phòng chống lũ và giữ gìn bảo vệ đê. Tuy nhiên, vấn đề ngập lụt đối với Hà Nội lại là “nội tại” phải giải bài toán thoát nước mưa tại chỗ với hệ thống trạm bơm và các đường tiêu thoát nước. Các điểm ngập trong nội thành chưa được cải thiện vì hệ thống cống từ các ngõ ngách tiểu khu đến các mương, sông còn chưa được đầu tư cải tạo và xây dựng. Do đó, nước mưa không thể tập trung nhanh về kênh dẫn đã cải tạo. Có thể thấy khu phố cổ Hà Nội bao lần mưa lớn không bị ngập nhờ hệ thống thoát nước hợp lý. Nhiều nơi khác của thành phố bị ngập do các hồ điều hòa bị lấp, cống rãnh bị tắc nghẽn, hệ thống bơm chưa phát huy tác dụng, lỗi này một phần do ý thức người dân vì xả rác bừa bãi, tắc cống cũng là một phần làm cho hệt thống thoát nước gặp khó khăn. Đặc biệt, do đường ống thoát nước bé nên việc khơi thông dòng chảy là vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, do công tác quy hoạch và quản lý chưa thực sự đạt hiệu quả nên thực trạng thoát nước tại các đô thị vẫn còn là vấn đề nan giải.

Việc phát triển các khu đô thị lớn về phía Mỹ Đình, Hà Đông cũng chưa quan tâm đến hệ thống thoát nước và đấu nối với các đầu mối thoát nước nên khu vực này là trọng điểm của ngập lụt mỗi lần có mưa. Vì thế, kịch bản khi nước biển dâng, việc thoát lũ càng khó khăn và gặp lúc thượng lưu mưa lớn vượt tần suất thiết kế, các hồ bắt buộc phải xả nước để đảm bảo an toàn cho đập thì thành phố sẽ ra sao?

Theo đánh giá hiện nay, dự án của JICA đã phát huy hiệu quả tiêu thoát nước vùng lõi nội đô cuối năm nay nếu dự kiến mực nước triều đạt đỉnh 1,58m thì sẽ lại là thách thức lớn đối với các dự án chống ngập của thành phố. Vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã gây ra xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt. Vấn đề úng ngập, thoát lũ của vùng Đồng Tháp Mười và TP HCM với xu hướng ngày càng gia tăng.

Kinh nghiệm thoát nước từ Hà Lan
 Hà Lan được biết đến là đất nước nằm thấp nhất so với mực nước biển. Vùng trũng nhất ở dưới mực nước biển tới 6,74m. Theo thống kê, 2/3 diện tích của quốc gia này nằm ở khu vực dễ ngập lụt, trong khi mật độ dân số thuộc nhóm đông đảo bậc nhất.

Đặc điểm này đã nhiều lần khiến Hà Lan trải qua những thảm hoạ kinh hoàng. Đỉnh điểm nhất là tháng 2/1953, triều cường dâng cao do ảnh hưởng của một cơn bão đã tàn phá gần như hoàn toàn vùng duyên hải phía nam. Hơn 200.000ha đất trồng trọt bị ngập lụt, 1.835 người bị chết đuối. Cũng từ thảm hoạ này đã lộ ra điểm yếu lớn nhất trong hệ thống các công trình phòng vệ chống nước biển của Hà Lan.

Chính vì vậy, Chính phủ Hà Lan đã ngay lập tức thành lập Uỷ ban Châu thổ nhằm sửa chữa, thi công các công trình phòng vệ chống biển.

Sau một thời gian nghiên cứu thực địa, Ủy ban Châu thổ nước này đã cho ra đời một kế hoạch xây dựng các công trình với tầm vóc và quy mô vĩ đại. Đó là hệ thống các công trình đê biển, kè biển, cửa cống và cửa chắn lụt ở khu vực Tây Nam. Tổng cộng có 65 đê chắn sóng đúc bê tông khổng lồ cùng 62 cửa van bằng thép di động treo giữa các đê chắn với tổng chiều dài 6,8km.

Được biết các cửa van dày 5m và rộng 40m, thay đổi theo độ cao từ 6m đến 12m tuỳ theo vị trí của chúng trong đập chắn. Cửa van lớn nhất nằm ở phần sâu nhất của châu thổ, nặng tới 480 tấn, phải mất cả tiếng đồng hồ mới mở hay đóng cửa van. Các công trình này được xây dựng trong suốt hơn nửa thế kỷ nhằm bảo vệ các khu vực đất đai rộng lớn trong vùng châu thổ trước sự tấn công của nước biển. Đây cũng được ghi nhận là hệ thống phòng hộ duy nhất chống lại sóng biển trên thế giới thuộc loại này.

Hiện tại các chuyên gia Hà Lan đang nghiên cứu và triển khai những dự án xây dựng hệ thống "đê chắn sóng thông minh" bằng cách tích hợp công nghệ cảm ứng để giám sát những con đê, đập nhằm đưa ra những cảnh báo sớm về nguy cơ bị nước biển tàn phá do biến đổi khí hậu. Theo đó, các chuyên gia và các nhà khoa học thủy lợi Hà Lan đang thử nghiệm gắn các chip vào thân đê, đập nhằm mục đích phát hiện sớm và cảnh báo các trận sóng thần và nước biển dâng. Qua đó, với những kinh nghiệm sâu sắc của Hà Lan, đây có thể là những giải pháp hữu hiệu mà Việt Nam có thể áp dụng cho thoát nước tại các đô thị lớn.
Thanh Huyền

(Báo Xây dựng)

Bài đăng phổ biến