Hiển thị các bài đăng có nhãn GocNhinNhanVat. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GocNhinNhanVat. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 7, 2016

Kinh nghiệm thoát nước từ Hà Lan

Trong vài năm trở lại đây Việt Nam và rất nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á cũng như các nước trên thế giới bị tác động rất lớn do biến đổi khí hậu như triều cường, xâm ngập mặn. Hầu như năm nào cũng bị bão lũ gây ảnh hưởng dẫn đến tình trạng úng ngập tại các đô thị. Các tỉnh Nam bộ chịu nhiều thiệt hại bởi thiên tai khá khốc liệt như xâm ngập mặn, nước biển dâng. 

Thực trạng thoát nước đô thị ở Việt Nam
Phối cảnh dự án cống thoát nước Tân Thuận.
Hệ thống thoát nước hiện có ở các đô thị nước ta từ loại IV trở lên là hệ thống cống chung gồm ống bê tông đúc sẵn, mương gạch đậy nắp đan bê tông, mương đất hở, các kênh mương và hệ thống ao, hồ điều hoà. Hệ thống cống được xây dựng tuỳ tiện không theo quy hoạch phát triển của đô thị, nhiều đoạn cống có tiết diện nhỏ hơn yêu cầu lại không được bảo dưỡng nên khả năng làm việc kém, cần được thay thế hoặc sửa chữa nâng cấp, phần lớn các đoạn cống và mương không có độ dốc phù hợp để tự làm sạch và không có thiết bị để tránh bốc mùi khi thời tiết khô.

Mức độ bao phủ của dịch vụ thoát nước chưa được điều tra khảo sát nhưng theo ước tính của các chuyên gia của Cục Hạ tầng kỹ thuật (Bộ Xây dựng) và của Hội Cấp thoát nước Việt Nam thì thấp hơn mức độ bao phủ của dịch vụ cấp nước, bình quân vào khoảng 30-40%.

Trên hệ thống sông Hồng có hàng loạt hồ chứa có nhiệm vụ phòng lũ, chống lũ có thể chứa nhiều tỷ khối nước, lại có hệ thống đê bảo vệ và những khu phân chậm lũ, nếu lũ lớn uy hiếp Hà Nội, có thể phân lũ vào các khu đó. Bởi vậy, vấn đề phòng lũ của Hà Nội là vận hành tốt hệ thống phòng chống lũ và giữ gìn bảo vệ đê. Tuy nhiên, vấn đề ngập lụt đối với Hà Nội lại là “nội tại” phải giải bài toán thoát nước mưa tại chỗ với hệ thống trạm bơm và các đường tiêu thoát nước. Các điểm ngập trong nội thành chưa được cải thiện vì hệ thống cống từ các ngõ ngách tiểu khu đến các mương, sông còn chưa được đầu tư cải tạo và xây dựng. Do đó, nước mưa không thể tập trung nhanh về kênh dẫn đã cải tạo. Có thể thấy khu phố cổ Hà Nội bao lần mưa lớn không bị ngập nhờ hệ thống thoát nước hợp lý. Nhiều nơi khác của thành phố bị ngập do các hồ điều hòa bị lấp, cống rãnh bị tắc nghẽn, hệ thống bơm chưa phát huy tác dụng, lỗi này một phần do ý thức người dân vì xả rác bừa bãi, tắc cống cũng là một phần làm cho hệt thống thoát nước gặp khó khăn. Đặc biệt, do đường ống thoát nước bé nên việc khơi thông dòng chảy là vô cùng khó khăn. Bên cạnh đó, do công tác quy hoạch và quản lý chưa thực sự đạt hiệu quả nên thực trạng thoát nước tại các đô thị vẫn còn là vấn đề nan giải.

Việc phát triển các khu đô thị lớn về phía Mỹ Đình, Hà Đông cũng chưa quan tâm đến hệ thống thoát nước và đấu nối với các đầu mối thoát nước nên khu vực này là trọng điểm của ngập lụt mỗi lần có mưa. Vì thế, kịch bản khi nước biển dâng, việc thoát lũ càng khó khăn và gặp lúc thượng lưu mưa lớn vượt tần suất thiết kế, các hồ bắt buộc phải xả nước để đảm bảo an toàn cho đập thì thành phố sẽ ra sao?

Theo đánh giá hiện nay, dự án của JICA đã phát huy hiệu quả tiêu thoát nước vùng lõi nội đô cuối năm nay nếu dự kiến mực nước triều đạt đỉnh 1,58m thì sẽ lại là thách thức lớn đối với các dự án chống ngập của thành phố. Vấn đề biến đổi khí hậu và nước biển dâng đã gây ra xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt. Vấn đề úng ngập, thoát lũ của vùng Đồng Tháp Mười và TP HCM với xu hướng ngày càng gia tăng.

Kinh nghiệm thoát nước từ Hà Lan
 Hà Lan được biết đến là đất nước nằm thấp nhất so với mực nước biển. Vùng trũng nhất ở dưới mực nước biển tới 6,74m. Theo thống kê, 2/3 diện tích của quốc gia này nằm ở khu vực dễ ngập lụt, trong khi mật độ dân số thuộc nhóm đông đảo bậc nhất.

Đặc điểm này đã nhiều lần khiến Hà Lan trải qua những thảm hoạ kinh hoàng. Đỉnh điểm nhất là tháng 2/1953, triều cường dâng cao do ảnh hưởng của một cơn bão đã tàn phá gần như hoàn toàn vùng duyên hải phía nam. Hơn 200.000ha đất trồng trọt bị ngập lụt, 1.835 người bị chết đuối. Cũng từ thảm hoạ này đã lộ ra điểm yếu lớn nhất trong hệ thống các công trình phòng vệ chống nước biển của Hà Lan.

Chính vì vậy, Chính phủ Hà Lan đã ngay lập tức thành lập Uỷ ban Châu thổ nhằm sửa chữa, thi công các công trình phòng vệ chống biển.

Sau một thời gian nghiên cứu thực địa, Ủy ban Châu thổ nước này đã cho ra đời một kế hoạch xây dựng các công trình với tầm vóc và quy mô vĩ đại. Đó là hệ thống các công trình đê biển, kè biển, cửa cống và cửa chắn lụt ở khu vực Tây Nam. Tổng cộng có 65 đê chắn sóng đúc bê tông khổng lồ cùng 62 cửa van bằng thép di động treo giữa các đê chắn với tổng chiều dài 6,8km.

Được biết các cửa van dày 5m và rộng 40m, thay đổi theo độ cao từ 6m đến 12m tuỳ theo vị trí của chúng trong đập chắn. Cửa van lớn nhất nằm ở phần sâu nhất của châu thổ, nặng tới 480 tấn, phải mất cả tiếng đồng hồ mới mở hay đóng cửa van. Các công trình này được xây dựng trong suốt hơn nửa thế kỷ nhằm bảo vệ các khu vực đất đai rộng lớn trong vùng châu thổ trước sự tấn công của nước biển. Đây cũng được ghi nhận là hệ thống phòng hộ duy nhất chống lại sóng biển trên thế giới thuộc loại này.

Hiện tại các chuyên gia Hà Lan đang nghiên cứu và triển khai những dự án xây dựng hệ thống "đê chắn sóng thông minh" bằng cách tích hợp công nghệ cảm ứng để giám sát những con đê, đập nhằm đưa ra những cảnh báo sớm về nguy cơ bị nước biển tàn phá do biến đổi khí hậu. Theo đó, các chuyên gia và các nhà khoa học thủy lợi Hà Lan đang thử nghiệm gắn các chip vào thân đê, đập nhằm mục đích phát hiện sớm và cảnh báo các trận sóng thần và nước biển dâng. Qua đó, với những kinh nghiệm sâu sắc của Hà Lan, đây có thể là những giải pháp hữu hiệu mà Việt Nam có thể áp dụng cho thoát nước tại các đô thị lớn.
Thanh Huyền

(Báo Xây dựng)

Thứ Tư, 13 tháng 1, 2016

Trị thủy - ám ảnh nghìn năm của giới lãnh đạo Trung Quốc

Khát vọng cai trị đất nước từ những bậc đế vương thời xưa cho đến lãnh đạo Trung Hoa hiện đại đều thể hiện qua những công trình xây đập khổng lồ.

Theo BBC, trị thuỷ, đặc biệt là khai thác lợi ích từ nước, đóng vai trò trung tâm của nghệ thuật quản lý nhà nước ở Trung Hoa trong nhiều thiên niên kỷ. Điều này cũng đang được tiếp nối đến hiện tại. Nền kinh tế Trung Quốc đang có dấu hiệu chững lại sau một thời gian dài phát triển nóng, và việc thiếu hụt nguồn nước có thể đem đến những hậu quả nghiêm trọng trong vài thập kỷ tới. 
Đập Tam Hiệp là công trình trong dự án xây dựng kênh đào dài cả ngàn km đưa nước từ sông Dương Tử (Trường Giang) ở phía Nam, có lượng nước lớn, lên sông Hoàng Hà ở vùng đồng bằng phía bắc khô hạn của Trung Quốc. (Ảnh: Reuters)
Đập Tam Hiệp nằm trên sông Dương Tử (Trường Giang) ở Trung Quốc, cách thành phố Nghi Xương 40 km. Trung Quốc tự hào về con đập được nhiều kỷ lục thế giới như "Đổ bê tông cường độ cao nhất"; "Đập tràn xả lũ có lưu lượng lớn nhất"; "Âu tầu nội địa có tổng mực nước chênh lệch cao nhất".

Những đập nước khổng lồ có khả năng cung cấp cho quốc gia khoản năng lượng thuỷ điện đáng kể, đồng thời cắt giảm các nhà máy nhiệt điện dùng than gây ô nhiễm. Đập Tam Hiệp có công suất phát điện thiết kế tới 18,2 GW - gấp 10 lần công suất của nhà máy điện hạt nhân Vịnh Daya ở tỉnh Quảng Đông. Bên cạnh đó, nhiều con đập lớn khác đang từng bước được xây dựng trên những con sông lớn, bao gồm cả con đập đang gây nhiều tranh cãi ở Nộ giang, con sông lớn chảy qua di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận ở tỉnh Vân Nam, trước khi sang đất Thái Lan và Myanmar.

Mặt khác, nguồn nước ở Trung Quốc đang trong tình trạng bấp bênh do ô nhiễm nặng, xây đập tràn lan, lạm dụng cải tạo đất cộng với tác động của biến đổi khí hậu. Suy thoái môi trường ước tính gây tiêu tốn tới 10% thu nhập quốc nội của Trung Quốc mỗi năm, theo tính toán của Elizabeth C Economy trong cuốn sách "Dòng sông nước đen". Do đó, kiểm soát nguồn nước đang được đặt lên hàng đầu khi xây dựng chính sách.

Tuyên bố của thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng vào thời điểm việc xây dựng con đập được phê chuẩn năm 1992, dường như để khẳng định rằng đây chính là biểu tượng của sức mạnh kinh tế, vị thế chính trị và năng lực kỹ thuật của Trung Quốc.

"Đập Tam Hiệp sẽ cho cả thế giới thấy rằng người dân Trung Quốc có nguyện vọng cao cả đồng thời đủ khả năng xây dựng thành công dự án thuỷ lợi và thuỷ điện lớn nhất thế giới".

Lo ngại

Đập Tam Hiệp đã trở thành biểu tượng ở thời hiện đại của đất nước Vạn Lý Trường Thành, khi cả hai đều có thể nhìn thấy từ không gian. Con số thống kê về con đập thật ấn tượng với 185 m chiều cao, hơn 2 km chiều rộng, tổng cộng gần 30 triệu m2 bê tông được sử dụng và 30.000 ha đất nông nghiệp bị ngập chìm trong nước để tạo ra vùng hồ chứa rộng tới hơn 1.000 km2.

Tuy nhiên, một số nhà phân tích lo ngại số lượng khổng lồ trầm tích tụ sẽ tăng nguy cơ gây lũ ở thượng nguồn sông Dương Tử đoạn qua tỉnh Tứ Xuyên. Ngoải ra, nó còn ảnh hưởng tới kinh tế địa phương, làm biến mất nhiều di sản có giá trị văn hóa và khảo cổ. Con đập dễ bị tổn thương do thiên tai như động đất vì kích thước quá lớn. Khối lượng của hồ trữ nước khi lên mức định sẽ làm tăng nguy cơ gây địa chấn và sạt lở đất vùng lân cận.

Một trong những vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất là tái định cư. Vùng đất lớn được thiết kế thành hồ trữ nước của đập Tam Hiệp, rộng tới hơn 1.000 km2 và trải dài hơn 600 km lên phía thượng nguồn, là quê hương của hơn 1,5 triệu người, sống ở 19 huyện thành và khu tự trị, 140 thị xã, 326 thị trấn và 1.351 ngôi làng. Tất cả đều phải di dời đến nơi ở mới.
 
Ảnh bên: Người bố bế con đang ngủ say, ngoái nhìn quê hương lần cuối trước khi lên đường tới khu tái định cư. (Ảnh: Btdxd)
Liệu họ có được cấp đủ tiền để bắt đầu cuộc sống trên mảnh đất mới? Làm thế nào để những người nông dân chân lấm tay bùn thích nghi được với môi trường đô thị? Các đô thị hiện đại liệu có đối phó được với làn sóng di dân ồ ạt?

Chính phủ Trung Quốc trấn an rằng tất cả những vấn đề trên đều đã được tính toán. Những vấn đề phức tạp và cấp bách trên đây có thể được làm sáng tỏ khi hiểu rõ bối cảnh lịch sử của công cuộc trị thuỷ và xây dựng các công trình thuỷ lợi ở Trung Quốc hàng nghìn năm qua.

Tư tưởng trị thủy

Những trận đại hồng thuỷ luôn là mối đe doạ lớn với an nguy của người dân, hiện hữu trong mọi truyền thuyết lịch sử Trung Hoa từ cổ chí kim. Sử sách ghi nhận người đầu tiên đưa ra giải pháp cho vấn đề này là nhà trị thuỷ tài ba – hoàng đế Hạ Vũ hay còn gọi là Đại Vũ, trong thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên.

Vốn là hoàng thân quốc thích, ông được các hoàng đế huyền thoại Nghiêu, Thuấn giao nhiệm vụ xây một hệ thống kênh mương thủy lợi tiêu thoát nước lũ nhanh chóng. Dự án đã khiến ông nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc được gọi là "Đại Vũ trị thủy". Dự án thành công, ông được lựa chọn trở thành người kế nhiệm của vua Thuấn, thành lập nên triều đại nhà Hạ, được sử sách coi là triều đại đầu tiên của Trung Quốc.

Tư tưởng di dân, dời núi, bố trí lại địa hình để kiểm soát dòng chảy tự nhiên luôn chi phối phương thức trị thuỷ ở Trung Quốc từ xưa đến nay. Có thể thấy rõ điều này trong công trình xây dựng Đại Vận Hà - kênh đào nhân tạo cổ nối liền hệ thống sông Dương Tử đến sông Hoàng Hà, hoàn thiện vào thời nhà Tuỳ, thế kỷ thứ 7. Hay công cuộc lao động trường kỳ, kéo dài nhiều thế kỷ, xây dựng các tuyến đê dài hàng trăm km dọc theo các con sông lớn nỗ lực ngăn chặn lũ lụt. Trong thời gian tại vị, hoàng đế nào để cho những trận lụt lớn xảy ra có cơ phải chịu sự rủi ro đánh mất "mệnh trời", thứ quyền lực tối cao đã ban cho hoàng đế quyền cai trị đất nước.

Xây dựng một con đập khổng lồ trên sông Dương Tử là tham vọng to lớn của mỗi nhà lãnh đạo Trung Hoa trong kỷ nguyên hiện đại, bắt đầu với lãnh đạo đầu tiên của nước Cộng hòa Trung Quốc Tôn Trung Sơn.

Ngay cả Mao Trạch Đông, trong bài thơ cảm tác năm 1956, đánh dấu lần bơi vượt sông Dương Tử, cũng đã tuyên bố tầm qua bài thơ: "Phía tây sông xây vách đá lớn. Đỉnh Vu sơn mây mưa dứt nẻo. Eo núi dâng mặt hồ. Thần nữ như còn đó. Thế giới, ồ, khác xưa!"

Khi đề chữ trên đường vào lăng mộ Hạ Vũ ở Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang vào năm 1995, chủ tịch Giang Trạch Dân, vốn xuất thân là một kỹ sư công trình, hiểu ra nguồn gốc sâu xa của sự tin tưởng và tôn kính mà chúng dân dành cho Hoàng đế Hạ Vũ. Sẽ chẳng có lời khen nào giá trị hơn khi được so sánh với đấng minh quân như Hạ Vũ. Cũng vì lý do đó mà báo chí truyền thông tung hô ông Giang như "Hạ Vũ thời đại".

Công cuộc tái định cư gây nhiều tranh cãi

Kế hoạch xây dựng đập Tam Hiệp có từ cuối những năm 1950, nhưng do biến động của Công cuộc Đại nhảy vọt và Cách mạng Văn hóa, nên bị xếp lại khá lâu và chỉ được nhắc lại khi Đặng Tiểu Bình lên chính sách cải cách và mở cửa vào cuối những năm 1970. Một con đập nhỏ hơn được xây dựng thí điểm ở vùng hạ lưu Cát Châu Bá (Gezhouba) thuộc Nghi Xương, chuẩn bị cho mục tiêu chính.

Việc xây dựng đập Tam Hiệp vấp phải không ít chỉ trích của các chuyên gia hàng đầu. Những người phản đối như nhà báo kiêm kỹ sư Đái Tình đã xuất bản cuốn sách đưa ra chỉ trích của các nhà khoa học Trung Quốc đối với dự án này. Hay khi thủ tướng Lý Bằng thông qua việc chấp thuận xây dựng con đập vào Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc năm 1992, một phần ba tổng số đại biểu bỏ phiếu chống lại kế hoạch này - mức bất đồng chính kiến chưa từng có.

Mặc dù nhóm phản đối thừa nhận, kể từ khi con đập được xây dựng, chưa thấy lặp lại trận lũ thảm khốc trên sông Dương Tử như năm 1998, cướp đi sinh mạng của hơn 3.500 người. Nhưng hậu quả của chương trình tầm cỡ nhằm tái định cư người dân lại đang gây nhiều tranh cãi hơn.

Không phải tất cả người dân đều hài lòng khi rời xa những ngôi làng lạc hậu để đến ở trong những ngôi nhà mới được cung cấp nước máy và lò sưởi. Đa phần phải nỗ lực rất lớn để thích nghi với cuộc sống mới, cách xa nơi chôn nhau cắt rốn tới hàng trăm km, và cư dân thì không thể hiểu được các phương ngữ mà họ sử dụng. Hơn thế nữa, còn xuất hiện những khiếu nại về cấp thiếu tiền bồi thường hay biển thủ công quỹ tái định cư.

Tiềm năng

Trung Quốc đất đai rộng lớn, với những con sông có thuỷ năng dồi dào và nhu cầu tiêu thụ năng lượng cực lớn, sẽ thật lãng phí nếu không tích cực tận dụng nguồn năng lượng tái tạo tự nhiên để duy trì tăng trưởng kinh tế.

Trung Quốc, về mặt lý thuyết có nguồn tài nguyên thủy điện lớn hơn bất cứ nơi nào trên thế giới - khoảng 380 gigawatt, tương đương với hàng trăm nghìn nhà máy điện hạt nhân cỡ trung bình - nhưng đến nay mới chỉ khai thác được khoảng một phần tư. Trung Quốc đặt mục tiêu sử dụng 15% năng lượng từ các nguồn năng lượng tái tạo vào năm 2020, thay thế các nguồn nhiên liệu truyền thống và giảm lượng khí thải cacbon xuống 40-45%. Do đó, phát triển thủy điện được xem là phương thức cốt yếu.

Trong lịch sử, sông Hoàng Hà vốn để lại ấn tượng sâu sắc hơn về tâm lý đối với người Trung Quốc nhiều hơn là sông Dương Tử. Được coi là "cái nôi của nền văn minh Trung Quốc", sông Hoàng Hà và các chi lưu gánh trọng trách đem nước tưới cho vùng bình nguyên phía bắc Trung Quốc, vùng đất phù sa bồi đắp cung cấp cho Trung Quốc hơn một nửa sản lượng lúa mì và một phần ba sản lượng ngô. Đồng thời, sông Hoàng Hà cũng là "nỗi thống khổ của Trung Quốc", với những trận lụt thảm khốc trong quá khứ giết chết hàng triệu người.

'Cuộc cách mạng' với dòng sông

Sông Hoàng Hà được chủ tịch Mao Trạch Đông quan tâm phát triển ngay sau khi lên nắm quyền năm 1949. Chính phủ phát động chiến dịch được cho là ngông cuồng - xây dựng các đập thuỷ điện theo cách được miêu tả là một trận chiến chinh phục thiên nhiên. Tờ Nhân dân Nhật Báo nói về công cuộc trị thuỷ sông Hoàng Hà như là truyền thuyết kể về trận chiến chinh phục long vương: các công trình dự án kỹ thuật sẽ "đánh vảy, chặt vuốt và bẻ răng của con rồng độc ác".
Cách dự án đập Tam Hiệp 700 km về phía bắc, đập Tam Môn chặn dòng sông Hoàng Hà ở nơi tiếp giáp hai tỉnh Hà Nam và Sơn Tây, được xây dựng trong thời kỳ Mao Trạch Đông từ nửa thế kỷ trước. (Ảnh: Tripdv)
Tam Môn là đập nước lớn nhất được xây dựng trên sông Hoàng Hà. Vị trí được đánh giá là vô cùng thuận lợi để xây đập, đúng như tên gọi Khe núi có ba cửa, lòng sông được chia thành ba dòng kênh chính bởi các đảo nhỏ, giúp rút ngắn khoảng cách chặn dòng. Công cuộc xây dựng bắt đầu vào mùa xuân năm 1957 do kỹ sư Liên Xô giúp đỡ.

Lý luận đưa ra là con đập sẽ giữ lại hầu hết phù sa, ngăn chặn sự bồi lắng ở hạ lưu gây ra ngập lụt cho vùng đồng bằng hai bên bờ sông. Dòng Hoàng Hà khi đó sẽ không mang nặng màu hoàng thổ phù sa, mà hoàn toàn ứng nghiệm với lời tiên tri cổ xưa "Thánh nhân xuất, Hoàng Hà thanh" (Thánh nhân xuất hiện, Hoàng Hà sạch trong).

Sự phi lý của niềm tin này sớm trở nên rõ ràng. Bùn bắt đầu tích tụ tại thành đập với tốc độ đáng báo động, và chỉ tới năm 1962, công suất hồ chứa nước của đập Tam Môn đã giảm đi một nửa. Ngay cả sau quá trình cải tạo mở rộng từ năm 1965 đến năm 1973, gần 40% công suất tích tụ phù sa của đập đã được sử dụng hết trong 18 năm đầu hoạt động, trong khi, năng lượng thủy điện được tạo ra lại ít hơn nhiều so với dự đoán ban đầu. Năm 2004, một trong những kỹ sư tham gia vào việc thiết kế xây dựng đập Tam Môn đã can đảm thừa nhận trên truyền hình Trung Quốc rằng con đập là "một sai lầm".

Mặc dù vậy, không thể nói rằng công cuộc trị thuỷ của Trung Quốc chỉ nhằm đánh bại sức mạnh thiên nhiên, xây dựng những đại công trình chặn dòng sông hung dữ. Kỳ quan trị thuỷ cổ tại Đô Giang Yển nằm trên sông Mân, Tứ Xuyên, được nhà Tần xây dựng vào khoảng năm 256 trước Công nguyên ngày nay vẫn được sử dụng giúp tưới tiêu hơn 5.300 km² đất nông nghiệp.

Được xây dựng bằng tài năng của quan khâm sai đại thần Lý Băng hơn 2.000 năm trước, công trình hạ tầng thuỷ lợi Đô Giang Yển có mục đích rõ ràng khai thác dòng nước sông Mân để tưới cho vùng bình địa của Thành Đô. Lý Băng đã thực hiện việc phân chia dòng chảy của con sông ra thành hai, để cho dòng nước lớn tiếp tục chảy bình thường, còn dòng kia nhỏ hơn dẫn nước chảy vào tưới cho ruộng đồng xung quanh.

Sự thành công của Đô Giang Yển không chỉ thể hiện ở việc công trình vẫn phát huy tốt công dụng dẫn nước tưới cho đồng ruộng đến nay, mà còn do thiết kế hợp lý, cảnh sắc tuyệt đẹp mà công trình này tạo nên. Vùng đất này khí hậu có bốn mùa, thiên nhiên tươi đẹp, núi cao thấp thoáng ẩn hiện, công trình thủy lợi kỳ vĩ càng góp phần làm cho khung cảnh trở nên ngoạn mục. Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc UNESCO đã công nhận Núi Thanh Thành và công trình thủy lợi Đô Giang Yển là Di sản Văn hóa Thế giới năm 2000.
Hệ thống thủy lợi Đô Giang Yển, một mặt, được coi là kiệt tác vĩ đại tạo phúc cho dân, được xây dựng trong sự hài hòa với thiên nhiên, mặt khác, còn là bàn đạp chiến lược giúp nhà Tần chinh phục nước Thục (vùng đất Tứ Xuyên ngày nay) - chiến thắng khởi đầu cho quá trình thống nhất đất nước Trung Quốc rộng lớn dưới sự khắc nghiệt, chuyên quyền của Tần Thủy Hoàng. (Ảnh: Wikipedia)
Tuệ Lâm

(VnExpress)  

Chủ Nhật, 13 tháng 9, 2015

Cà Mau: Xây cống thủy lợi rồi… đập bỏ

Thời gian qua trên địa bàn tỉnh Cà Mau, nhiều cống thủy lợi được đầu tư tiền tỷ mới đưa vào sử dụng đã… lạc hậu,  phải đập bỏ.

Cống “trôi sông”
Những ngày gần đây, nhiều người dân sống gần cống kênh 18 (xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau) buồn vui lẫn lộn khi hay tin UBND tỉnh Cà Mau cho phép phá dỡ cống để xây dựng cẩu trục. Người dân vui vì UBND tỉnh thấu hiểu được nhu cầu thực tế tại địa phương: Cống kênh 18 đã lạc hậu (do khẩu độ quá nhỏ), không đáp ứng được nhu cầu vận chuyển lâm sản và hàng hóa của người dân.

Ngược lại, việc phá dỡ cống kênh 18 cũng có người phản ứng và cho rằng xây cống tốn tiền tỷ mới sử dụng hơn một năm mà đã đập bỏ, như vậy quá lãng phí, sử dụng tiền thuế của dân không hiệu quả. Trong khi đó, tại xã Khánh Thuận (một trong những xã nghèo nhất của tỉnh) lại “khát” kinh phí để đầu tư xây dựng lộ giao thông nông thôn. Tiền tỷ bỏ ra xây cống rồi đập bỏ “trôi sông” như vậy khiến dân bức xúc.
Cống thủy lợi kênh 18 phải đập bỏ vì không phù hợp thực tế
Tương tự, nhiều người dân tại xã Nguyễn Phích (huyện U Minh) cũng “lên án” cống T29. Theo người dân nơi đây, từ ngày đầu tư xây cống T29 chẳng những không phát huy hiệu quả mà ngược lại gây rất nhiều khó khăn nên đề nghị đập bỏ cống này.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, hai cống trên mỗi cống được đầu tư xây dựng với kinh phí khoảng 1,3 tỷ đồng. Công trình này nằm trong dự án nâng cao năng lực phòng cháy chữa cháy rừng (giai đoạn 1) do Chi cục Kiểm lâm Cà Mau làm chủ đầu tư. Theo giải thích của Chi cục Kiểm lâm, do nguồn vốn có hạn nên thời gian qua các cống được đầu tư với mục tiêu chủ yếu phục vụ công tác phòng chống cháy. Do vậy, không đáp ứng được nhu cầu vận chuyển lâm sản, thiết bị máy móc và phương tiện lớn qua lại.

Do các cống thủy lợi mới đưa vào sử dụng đã lạc hậu so với tình hình thực tế, ông Lê Dũng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau, đã chỉ đạo điều chỉnh quy mô, khẩu độ các cống trong giai đoạn 2 nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa, lâm sản của người dân. Ông Dũng cũng yêu cầu các cơ quan, đơn vị có liên quan nghiêm túc “kiểm điểm rút kinh nghiệm” trong việc tham mưu, đề xuất chủ trương đầu tư các công trình này.

Bài học hiện hữu
Cũng liên quan đến việc xây dựng cống thủy lợi, tại hai tiểu vùng 17 và 18 (huyện Đầm Dơi) các cống thủy lợi quy mô được đầu tư hàng trăm tỷ đồng đang xây dựng tại đây cũng gây nhiều tranh cãi.
Ông Phạm Văn Đức, Phó Chủ tịch Liên hiệp Các hội Khoa học kỹ thuật tỉnh Cà Mau (đơn vị phản biện Điều chỉnh quy hoạch thủy lợi tỉnh Cà Mau đến năm 2020), cho biết: “Khi các cống thủy lợi được xây dựng và bị người dân trong vùng dự án phản ứng, cho rằng rất lãng phí ngân sách lại không hiệu quả. Nguyên nhân vì vùng này có ưu thế sử dụng điều kiện tự nhiên, biên độ triều rộng, đủ khả năng cấp thoát nước. Nếu điều tiết nước bằng cống sẽ hạn chế nước dẫn vào ao nuôi tôm. Đáng nói hơn còn dẫn đến tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, gây cản trở giao thông thủy, khó khăn trong việc vận chuyển hàng hóa và đi lại của nhân dân”.
Trong khi đó đại diện chủ đầu tư (Sở NN-PTNT) cho rằng, việc xây dựng cống là cần thiết để ngăn chặn phù sa, nhất là từ sông Gành Hào theo dòng chảy làm bồi lắng kênh mương, ao đầm nuôi tôm của dân. Ngoài ra, khi xây dựng cống sẽ ngăn được nguồn nước ô nhiễm và cấp nước sạch, kiểm soát dịch bệnh cho nuôi tôm được tốt hơn.

Trước thực tế đầu tư xây dựng cống thủy lợi tại hai tiểu vùng 17 và 18, ông Đức nêu quan điểm: “Bài học lãng phí về xây dựng cống thủy lợi vẫn còn hiện hữu trên địa bàn Cà Mau. Cụ thể như cống ở phường 5 Cà Mau (TP Cà Mau), cống Bạch Ngưu (huyện Thới Bình). Trước đây, thời kỳ chưa chuyển dịch sản xuất, nhiều cống thủy lợi xây dựng phục vụ cho nông nghiệp. Tuy nhiên, khi chuyển dịch sang nuôi tôm thì nhiều cống thủy lợi đã lạc hậu, nhà nước phải tốn thêm tiền để phá dỡ cống. Vì vậy, cần cân nhắc khi xây dựng cống thủy lợi nhằm tránh lãng phí”.

Xây cống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản, cũng như phòng chống cháy là điều hết sức cần thiết. Tuy nhiên, cần cân nhắc khi đầu tư và có tầm nhìn dài hạn để tránh tình trạng vừa xây dựng chưa được bao lâu thì không còn phù hợp với thực tế, phải đập bỏ.
Ngọc Chánh

Thứ Năm, 12 tháng 6, 2014

Đêm không ngủ trên công trường Thủy lợi

Bài thơ "Đêm không ngủ trên công trường Thủy lợi"
Trương Minh Phố CT HĐQT kiêm GĐ Công ty Cổ phần tư vấn khảo sát và Xây dựng số 2 (Tổng Công ty Tư vấn khảo sát Thủy lợi VN – CTCP) (Cựu sinh viên Khóa 12 Khoa Tổng hợp Tại chức – Đại học Thủy lợi)


Đêm không ngủ trên công trường thủy lợi
Đêm không ngủ trên công trường thủy lợi
Tiếng máy khoan khảo sát lòng hồ
Cả vùng đồi hoang vu thức dậy
Nghe mặn mòi từng giọt mồ hôi
Ta đã đi qua miền khô khát
Đất bazan tung bụi đỏ mịt mờ
Cây héo úa, mắt lá nhìn ngơ ngác
Bát nước cuối cùng bầy trẻ chia nhau.
Tiễn ta đi, mẹ đứng ngóng thật lâu
Lưng mẹ như lưng đồi nắng đốt
Và em ta, tóc cháy vàng khô khét
Đêm ngủ mơ thấy nước mát tràn trề.
Những đêm dài ta thức có hề chi
Gắng thêm nữa cho ngày vui mau tới
 Ta ngăn sông dẫn nước về đồng nội
Bát cơm thơm hể hả mẹ ta chờ.
Cùng bạn bè ta thức giữa trời khuya
Từng mũi khoan sâu thăm dò lòng đất
Lau giọt mồ hôi thầm ngân nga câu hát
Mảnh trăng bên trời dường như chẳng cô đơn.

Trương Minh Phố
Trái tim bạn có thể chất chứa muôn vàn tình yêu thương và tôi nghĩ rằng, thật tuyệt vời nếu nơi ấy có tình yêu với Thủy Lợi của chúng ta. Bạn hãy yêu nghề bằng chính trái tim, sự tự hào và sự cống hiến.! (Đoàn Ngọc Tứ)

Thứ Bảy, 17 tháng 5, 2014

Cố GS Nguyễn Sinh Huy và dấu ấn công trình thoát lũ ra biển Tây

(Dân trí) - Tâm huyết cả đời với nghề dạy học và nghiên cứu, cố giáo sư Nguyễn Sinh Huy đã cống hiến cho xã hội nhiều đề tài khoa học có tính thực tiễn cao. Trong đó nổi bật nhất chính là công trình thoát lũ ra biển Tây.

Con người của những công trình nghiên cứu
Giáo sư, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Sinh Huy sinh ngày 17/10/1932 tại xã Thạch Tân, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là con trai trưởng trong gia đình có 7 anh, chị em đều tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1950, sau khi học xong trung học phổ thông, Nguyễn Sinh Huy gia nhập Đoàn Thanh niên Cứu quốc và chuyên trách công tác Đoàn tại địa phương.

Năm 1953 khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết định, ông gia nhập lực lượng thanh niên xung phong phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1955, hòa bình lập lại, ông được lựa chọn sang Liên Xô (cũ) và được phân công học tập tại Trường Đại học Khí tượng - Thủy văn Ôđetxa thuộc nước Cộng hòa Ukraina. Khác với nhiều sinh viên cùng thời, khi đi học, ông đã là cán bộ trong biên chế Nhà nước, là Bí thư chi đoàn của nhóm thanh niên học tại Ôđetxa. Sau 5 năm mải miết học tập, ông giành được tấm bằng kỹ sư xuất sắc. Tháng 7/1962 về đến Hà Nội, ông được phân công giảng dạy tại Trường đại học Thủy lợi.

Trong suốt 35 năm liên tục công tác tại Trường ĐH Thủy lợi, GS Nguyễn Sinh Huy đã tham gia giảng dạy và hướng dẫn tốt nghiệp cho 31 khoá sinh viên các ngành thủy văn, thủy công, thủy nông và thi công công trình. Nhiều thế hệ sinh viên được GS Huy dạy bảo, dìu dắt nay đã trưởng thành, từng giữ những cương vị chủ chốt tại Trường ĐH Thủy lợi, ở trong và ngoài ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Thành quả ấy đã ghi nhận công lao to lớn của ông đóng góp vào công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyên môn của Bộ môn Thủy văn công trình nói riêng và sự nghiệp đào tạo chung của Trường ĐH Thủy lợi.
 GS Nguyễn Sinh Huy cùng các đồng nghiệp trong
chuyến khảo sát hồ sinh thái Vĩnh Lộc (TPHCM).
Là một giảng viên có trình độ cao, rất có uy tín trong đồng nghiệp, được sự tín nhiệm của tổ chức, từ tháng 12/1984, ông được cử làm giám đốc kiêm Bí thư chi bộ Trung tâm ĐH1 (nay là cơ sở 2 của trường) cho đến khi nghỉ công tác quản lý tháng 11/1993. Giáo sư Huy đã được cử tham gia các chương trình nghiên cứu khoa học và làm chủ nhiệm nhiều đề tài cấp Nhà nước; trong đó có 11 đề tài thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), 3 đề tài ở vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, và tham gia nhiều đề tài khác. Ông cũng được giao chủ trì 31 đề tài do cấp Bộ, cấp Tỉnh và Thành phố quản lý. Có những công trình quan trọng về tính hiệu quả và tính xã hội sâu sắc đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả khu vực đông dân cư hay có diện tích lớn như khu vực TPHCM, ĐBSCL.

 Ông cũng đã chủ trì nhiều đề tài nghiên cứu quan trọng như: Luận chứng và Thiết kế các công trình thủy điện Trị An, Thác Mơ, Hàm Thuận - Đa Mi (1981 - 1993); Chủ trì lập kế hoạch vận hành lợi dụng tổng hợp kho nước Dầu Tiếng (1984); Hệ thống công trình thoát lũ ra biển Tây (1996 -1997); Kiểm soát lũ vùng Đồng Tháp Mười (1998 - 1999); các dự án phục vụ phát triển TPHCM như: Khu đô thị mới Thủ Thiêm, Lấn biển Cần Giờ, khu du lịch sinh thái Vĩnh Lộc... Những vùng khác như Tây Nguyên, Đông Nam bộ, ven biển miền Trung... đều có các công trình nghiên cứu của ông.

Về nghỉ hưu, ông vẫn tiếp tục phối hợp với cơ sở 2 Trường ĐH Thủy lợi, Viện Địa lý Tài nguyên TPHCM, Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu và nhiều dự án quy hoạch quan trọng, đóng góp to lớn cho sự phát triển thủy lợi và kinh tế xã hội ở ĐBSCL, TPHCM, miền Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và các tỉnh duyên hải Miền Trung.

Dấu ấn công trình thoát lũ ra biển Tây
Ý tưởng thoát lũ ra biển Tây của cố GS Nguyễn Sinh Huy là một tư duy khoa học đầy sáng tạo, bằng cách: xây dựng thêm một số công trình mới, cải tạo các công trình đã có, kể cả kênh Vĩnh Tế, nhằm chuyển một phần nước của sông Hậu thoát về biển Tây, vừa giảm áp lực nước cho vùng tứ giác Long Xuyên, vừa đồng thời sử dụng nước ngọt trong mùa lũ để cải tạo đất phèn vùng Tứ giác Hà Tiên.

Theo số liệu của năm 1997, trong vùng có diện tích 489.935 hecta, nhưng có đến 253.186 hecta là đất bị nhiễm phèn, và 12.100 ha bị nhiễm mặn. Sau mùa lũ 1996, trước những khó khăn lớn của ĐBSCL do bị ngập lụt, ý tưởng kiểm soát lũ tràn qua biên giới được ông đưa ra nhưng không phải được sự đồng tình ngay từ ban đầu.

Khi đó ông đã nghỉ hưu và về làm việc tại Phân viện Địa Lý thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia (TTKHTN & CNQG, nay là Viện khoa học và công nghệ Việt Nam). May mà ý tưởng của ông được Giáo sư Viện sỹ Nguyễn Văn Hiệu khi đó đang là Giám đốc TTKHTN & CNQG biết đến và Viện sỹ đã mời ông trình bày với Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Thủ tướng vốn là người đang có nhiều trăn trở về phát triển kinh tế - xã hội của ĐBSCL và bằng sự nhạy cảm chính trị của mình, chỉ sau một buổi làm việc, tuy chưa kiểm tra các kết quả tính toán, nhưng ông đã hoàn toàn tin vào ý tưởng của GS Huy và quyết định cho phép đề án được tiếp tục nghiên cứu chi tiết để triển khai thực hiện.
GS Nguyễn Sinh Huy báo cáo đề tài kiểm soát lũ Đồng
Tháp Mười năm 1997. (Ảnh gia đình cung cấp)
Đề án đã được đánh giá cao, được tặng giải thưởng của TTKHTN & CNQG và do tính cấp bách của yêu cầu thực tế, công trình đã được Chính phủ đồng ý cho cơ quan chức năng nghiên cứu chi tiết và thực hiện vào năm 1997. Năm 2000, một trận lũ lịch sử đã xảy ra, công trình Thoát lũ ra biển Tây đã đứng vững trước một thách thức lớn và phát huy hiệu quả. Vào năm này kênh Vĩnh Tế và hệ thống thoát lũ đã vận chuyển được 13 tỷ m3. Nước phù sa sông Hậu chảy sâu vào nội đồng vùng Tứ giác Long Xuyên từ 30 đến 40 km, đã có 8 tỷ m3 được sử dụng để thau chua, rửa phèn so với 2,5 tỷ m3 trước đây.

Ngay trong 5 năm đầu tiên đã khai hoang được 50.000 ha đất nông nghiệp, tạo nguồn nước ngọt cho 200.000 ha đất tự nhiên, 150.000 ha đất phèn được cải tạo, hơn 200.000 người dân thoát khỏi cảnh thiếu nước sinh hoạt hàng ngày, môi trường đã tốt hơn, cá Linh là biểu hiện của môi trường trong lành đã về đến Kiên Giang, chim đàn trở về nhiều hơn trước; riêng tỉnh Kiên Giang, năm 2002 đã thu hoạch được 2,5 triệu tấn lương thực so với 1,6 triệu tấn những năm chưa có công trình.

Đến nay, sau 10 năm vận hành, hệ thống thoát lũ biển Tây ngày càng phát huy hiệu quả toàn diện, các mục tiêu tổng hợp của công trình như ngăn lũ, thoát lũ, cải tạo môi trường, tạo nguồn, giữ nước và phối hợp thuỷ lợi - giao thông - dân cư được thực hiện đồng bộ.

GS Nguyễn Sinh Huy đã đi vào cõi vĩnh hằng ngày 22/9/2012. Những ngày cuối đời, ông vẫn luôn trăn trở tiếp tục đóng góp tâm huyết, trí tuệ và kinh nghiệm của mình nhằm tìm ra những giải pháp tổng hợp, hiệu quả để phát triển bền vững kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu - nước biển dâng. Ông đặc biệt quan tâm đến việc xem xét đánh giá toàn diện hệ thống công trình thoát lũ Tứ giác Long xuyên để kiph thời phát hiện, sửa chữa những sai sót. Đặc biệt là hoàn thiện công trình trong tình hình mới với những yêu cầu cao hơn về phát triển kinh tế - xã hội và sự tác động của biến đổi khí hậu - nước biển dâng. Tiếc thay, những dự định của ông đành phải để lại cho các thế hệ kế tiếp.

Nguyễn Hùng

Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

Công trình thủy lợi "chết yểu", đất nông nghiệp bỏ hoang

(ĐSPL) - Hiện có rất nhiều đất nông nghiệp ở huyện Mường Lát (Thanh Hóa) đang bị bỏ hoang vì khô hạn, ruộng không có nước tưới, dân không có đất trồng trọt, cuộc sống vô cùng khó khăn, thiếu thốn. Trong khi đó, một số công trình thủy lợi với vốn đầu tư lên đến hàng chục tỷ đồng được xây dựng ở nơi này không hề phát huy hiệu quả.

Thậm chí, một số công trình "ma" như đập suối Lét ở xã Tam Chung, vốn đầu tư 1,7 tỷ đồng, từ khi khởi công đến khi hoàn thành đều không phổ biến với chính quyền địa phương và rất ít người biết đến sự tồn tại của nó.

Những cánh đồng "khát" nước
Với những đặc trưng riêng về điều kiện tự nhiên, trong những ngày tháng 3, tháng 4 này, Mường Lát đang ở trong giai đoạn cao điểm của mùa khô. Những cánh rừng trồng le khô quắt, vàng rực dưới nắng hanh tưởng như chỉ cần một mồi lửa sẽ bùng cháy dữ dội. Những thửa ruộng bậc thang mà lẽ ra vào thời điểm này đã phải được phủ lên màu xanh tươi mơn mởn của lúa đang thì con gái, giờ đây chỉ còn là những cánh đồng khô nứt nẻ.
Trưởng bản Lò Quốc Tính ngán ngẩm trước chất lượng tồi tệ của công trình tiền tỷ ở đập suối Lét.
Anh Hà Văn Lợi, người dân bản Đông Ban, xã Pù Nhi cho biết: "Trước đây, có mương dẫn nước từ bản Na Tao về, trời không mưa, dân vẫn trồng được lúa, mỗi năm cấy 2 vụ, đủ gạo cho người ăn cả năm, đủ thóc nuôi vài chục con gà, con lợn. Vài năm trở lại đây, mương hỏng, không có nước, ruộng đành bỏ không cho cỏ dại mọc thôi. Phải chờ khi nào có mưa xuống, dân bản mới trồng được một vụ ngô".

Giống như những người dân đang sinh sống ở bản Đông Ban, chị Hà Thị Nguyệt, SN 1985 hiện đang sống cùng đứa con trai 7 tuổi cũng đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn khi không thể trồng trọt trên thửa ruộng khô cằn vì thiếu nước của gia đình mình. Chồng chị mất sớm nên gia cảnh đã khó nay lại càng khó khăn.

Chị Nguyệt cho biết, từ nhiều năm nay, khi không còn hệ thống mương thủy lợi dẫn nước từ Na Tao về, đồng ruộng khô cháy không trồng trọt được, thu nhập của gia đình chỉ trông vào vụ ngô trong mùa mưa, còn mùa khô thì chơi dài. Nhắc đến những thửa ruộng bậc thang xanh rì, những vụ mùa bội thu trong quá khứ, người dân ở đây, không ai không xót xa, ngậm ngùi khi đứng trước những cánh đồng khô nứt nẻ đang chết dần chết mòn trong cơn khát triền miên.

Cùng anh Lâu Văn Lanh (Chủ tịch hội Nông dân xã Pù Nhi), chúng tôi lần theo đường đi của hệ thống mương thủy lợi dẫn nước từ bản Na Tao về Đông Ban nhưng những gì còn lại của một trong những hệ thống thủy lợi lớn nhất huyện vùng cao này chỉ là những đoạn ống dẫn nước hoen rỉ, khô khốc và những đoạn mương cũ đã bị san lấp không còn dấu vết. Anh Lanh cho hay: "Nguyên nhân là do trong quá trình thi công con đường từ Na Tao đi bản Chai, việc san ủi, mở rộng mặt đường đã làm một lượng lớn đất đá rơi xuống suối, kênh mương thủy lợi, làm tắc hệ thống dẫn nước. Nhiều đoạn mương dẫn nước đi qua bản Na Tao đã bị san lấp hoàn toàn khiến nước không thể chảy xuống các bản phía dưới, hệ thống mương dẫn nước đến các chân ruộng không còn tác dụng, bị bỏ hoang hàng chục năm nay. Người dân chỉ còn biết ôm cày cuốc chờ mưa xuống, trồng cố một vụ ngô để lấy cái ăn".

Công trình "ma" giữa đại ngàn
Trước tình trạng ruộng đất bỏ không, người dân đói kém, nhiều người đặt câu hỏi, hàng chục tỷ đồng đầu tư cho các công trình thủy lợi ở Mường Lát để giải quyết "cơn khát" đã chảy về đâu khi "cơn khát" vẫn đang hoành hành?

Trao đổi với chúng tôi về công trình đập, mương suối Lét, ông Hà Văn Thiên (Phó Chủ tịch UBND xã Tam Chung, Mường Lát) cho biết: "Đây là công trình đập, mương ngăn suối Hin Păng, dự kiến dẫn nước tưới tiêu cho 15ha ruộng của bản ón nhưng lại được xây dựng trên địa phận của bản Poọng. Công trình khởi công năm 2010 và kết thúc năm 2012. Điều kỳ lạ là trước, trong và sau khi thi công công trình, phía chủ đầu tư (UBND huyện), thi công dự án không hề phổ biến với chính quyền địa phương. Đùng một cái, chúng tôi thấy người ta kéo về xây công trình ở địa phương mà cũng không biết đó là công trình gì, xây dựng với mục đích gì, xây xong không thấy bàn giao công trình, cũng không thấy đưa vào sử dụng".

Theo đó, dự án đập, mương suối Lét là một trong những dự án nằm trong danh mục các dự án đầu tư năm 2009 thuộc 7 huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa theo nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.

Trong văn bản số 1592/QĐ-UBND ngày 28/5/2009 của tỉnh Thanh Hóa do Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt có nêu rõ huyện Mường Lát có 9 dự án, giao cho UBND các huyện làm chủ đầu tư, trong đó có dự án đập, mương suối Lét xã Tam Chung tưới cho 15ha đất ruộng. Vì đây là một công trình rất quy mô được bà con nông dân trông đợi cho nên chúng tôi đã quyết định tìm đến tận nơi để được mục sở thị hiệu quả của công trình.

Vượt qua gần chục km đường rừng với những con dốc gồ ghề, cao ngút tầm mắt, cuối cùng chúng tôi cũng đến được đập suối Lét. Nếu không có sự dẫn đường nhiệt tình của anh Lò Quốc Tính (Trưởng bản Poọng), có lẽ chúng tôi sẽ mất rất nhiều thời gian để tìm được địa điểm này bởi nó được xây dựng giữa rừng sâu hun hút.

Nhìn "công trình" nham nhở trước mắt, ít ai có thể hình dung ra nó là một đập nước thủy lợi và lại càng không thể tin rằng đây là một công trình đáng giá 1,7 tỷ đồng. Trong lúc chúng tôi đang tỏ rõ sự thất vọng của mình thì anh Tính dùng tay cạy ra những mảng xi trên công trình một cách khá dễ dàng, đồng thời kéo ra một vài bao xi măng đã đông cứng thành đá bị bỏ lại dưới một gốc cây gần đó ngán ngẩm bảo: "Đây, cán bộ xem!". Không cần bình luận nhiều, chúng tôi đều đã có câu trả lời cho riêng mình về chất lượng quá kém của công trình và sự lãng phí một cách phi lý của nó.

Anh Tính cho biết thêm: "Trên thực tế, nếu xây ở vị trí này, đập suối Lét cũng chỉ tưới được cho từ 3 - 5 sào ruộng của một vài hộ gia đình nhỏ (trong khi trên dự án là 15ha). Trong khi đó, những cánh đồng rộng lớn ở Mương ùi, Mương Gián... dân phải làm đập tạm, mương đất để dẫn nước thì không thấy xây đập cho bà con. Nơi cần xây thì không xây, nơi không cần xây thì lại xây".

Câu kết luận cuối cùng của Tính khiến chúng tôi không khỏi băn khoăn về nghịch lý của công trình đập suối Lét nói riêng và những công trình tiền tỷ đang bị bỏ không ở nơi này.


DƯƠNG DUNG

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2013

Thủy lợi hay... thủy hại

Miền Trung với đặc điểm các con sông đều ngắn, dốc, lưu vực nhỏ nên đỉnh lũ nhọn, hễ mưa lớn hầu như sẽ có lũ. Địa hình miền Trung hẹp ngang, có nơi chỉ 40 km, dãy Trường sơn kéo dài từ Bắc vào Nam, có nơi núi đâm ra tới biển (Đèo Cả, đèo Hải Vân). Địa hình không có vùng trung du nên lũ tập trung rất nhanh.
Không có khả năng chống lũ chính vụ
Các cửa sông luôn bị đưa lên phía Bắc do tác động của dòng hải lưu gần bờ và bị bồi lấp bởi gió mùa Đông Bắc. Hàng năm, chịu ảnh hưởng trung bình 6-7 cơn bão, có năm lên tới 10 cơn bão với lượng mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 12.

Các trung tâm kinh tế- xã hội ở miền Trung đều tập trung ở các vùng ven biển thường xuyên bị ngập lụt khi có lũ lớn, đặc biệt khi có lũ kết hợp triều cường. Đường quốc lộ 01 và đường sắt chạy dài từ Bắc vào Nam như một tuyến đê ngăn lũ, chênh lệch mực nước giữa thượng và hạ lưu khi có lũ lên tới 2,3 m.
 
Miền Trung trong trận lũ lịch sử vừa qua. (Ảnh: Lao Động)
Mỗi khi lũ lụt xảy ra, gây thiệt hại lớn, người ta thường đổ cho nguyên nhân chính là do mưa lớn/ thiên tai xảy ra trong năm nay quá đặc biệt so với nhiều năm. Rồi sẽ hứa là rà lại qui trình một cách nghiêm khắc, nâng cao công tác dự báo vv...

Chỉ tính riêng số công trình thuỷ lợi các tỉnh miền Trung từ Thanh Hoá tới Khánh Hoà có 2.855 hồ chứa, 2.524 đập dâng và đê các loại 3.535 km. Các công trình này được xây dựng qua nhiều thời kỳ, đã xuống cấp, phần lớn không có dung tích phòng lũ. Riêng các công trình được đầu tư sửa chữa bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển Á Châu (ADB) hoặc trái phiếu Chính phủ thì còn đảm bảo chống lũ theo tần xuất thiết kế.

Nhìn lại năm 1999, miền Trung thực sự bị lũ lịch sử gây ra thảm họa thiên tai cả về người và của. Năm nay (2013) lũ nhỏ hơn năm 1999, ngoại trừ một vài nơi có lũ lớn như Quảng Bình, Quảng Ngãi vv…Năm 1999 thời gian mưa 05 ngày với lượng mưa đến 1700 mm. Năm nay, lượng mưa chủ yếu từ 24- 48 giờ với lượng mưa 800 mm. Các trạm đo An Chí, Ba Thê, Minh Long cho thấy cường độ mưa rất lớn hơn 100 mm/giờ.

Sông Trà Khúc vượt lũ lịch sử do cường độ mưa quá cấp tập.

Nguyên nhân gây ra lũ là các trận bão liên tiếp từ cơn bão số 10 đến 15 và áp thấp nhiệt đới, gây ra cường độ mưa lớn và liên tục. Lượng mưa gây ra bởi ảnh hưởng của các cơn bão này cũng rất lớn, trong đó có những vùng như Thanh Hóa, Nghệ An, Huế, Phú Yên, Bình Định. Có những trận mưa lên tới 500- 600 mm tập trung trong vòng có 1-2 ngày.

Có thể thấy đây là nguyên nhân chính gây lên tình hình ngập úng nặng tại miền Trung vừa qua. Cũng do mưa lớn kéo dài liên tục, vừa dứt đợt trước lại tiếp tục có đợt mưa mới nên lượng nước sẵn có trên bề mặt, trong các sông suối, kênh mương chưa kịp tiêu thoát hết. Chịu tác động tương tự là các hồ chứa, lượng nước về hồ chưa kịp xả hết lại đón nhận đợt lũ tiếp theo.

Do nguyên nhân mưa lớn kéo dài, chính quyền và nhân dân phải liên tục đối phó trong tình trạng khó khăn về mọi mặt, giao thông, liên lạc bị chia cắt, năng lượng không đảm bảo, nhu yếu phẩm khó khăn, khiến cho công tác ứng phó gặp nhiều khó khăn và thiệt hại tăng lên rất nhiều.

Mặt khác, rừng đầu nguồn bị khai thác nhiều, không còn là vùng đệm và khả năng điều hòa dòng chảy. Cơ sở hạ tầng phát triển không theo quy hoạch, nhiều vật cản kể cả đường giao thông làm cho khả năng thoát lũ chậm. Một số cửa sông bị bồi lấp như cửa Đại (Vu Gia - Thu Bồn), cửa Lở (Trà Khúc), cửa Đà Rằng (sông Ba) làm ảnh hưởng đến khả năng thoát lũ làm thời gian lũ ngập lâu hơn và mực nước lũ cao hơn.

Các hồ chứa thủy điện, thủy lợi ở miền Trung không có khả năng chống lũ chính vụ mà chỉ tham gia chống lũ sớm và lũ muộn. Khác hẳn với lưu vực sông Hồng là các hồ chứa như Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu, Thác Bà đều tham gia chống lũ chính vụ.

Hệ thống công trình hồ chứa ở miền Trung khi thiết kế và thi công, hầu hết chỉ coi trọng nhu cầu phát điện, không có dung tích phòng lũ hữu hiệu. Chất lượng công tác dự báo kém cho nên quy trình vận hành xả lũ lúng túng không phù hợp với thực tế.

Lũ rất nhanh mà trong quy trình chỉ thông báo trước 02 giờ, lại không kịp đến tất cả người dân cho nên nếu gặp thời điểm xả lũ vào ban đêm hay đồng loạt xả lũ thì nguy cơ đến tính mạng người dân là điều dễ hiểu.

Năm nay lũ về nhanh và tàn phá nhiều vùng do mưa lớn kết hợp với việc thủy điện lo sợ vỡ đập đã cùng nhau xả lũ, khiến tình hình càng tồi tệ hơn. Các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Gia Lai là những nơi chịu lũ vì thủy điện. Riêng Quảng Nam lũ xảy ra do tác động của lượng mưa quá lớn.

Những nơi bị lũ tràn về thật khó mà tả cho hết nỗi đau do mất mát của người dân. 

Bầm dập vì phá rừng
Lập quy trình vận hành liên hồ chứa rất phức tạp và còn khá mới mẻ đối với nước ta.

Cho đến nay chưa có quy trình vận hành mùa lũ nào được phê duyệt. Lợi ích về năng lượng của thủy điện đã rõ, nhưng bầm dập do phá rừng, xả lũ chưa hợp lý, thay đổi dòng chảy tác động xấu đến môi trường của nhiều đập thủy điện như vết sẹo để lại thì vẫn còn mãi mãi…
Khu tái định cư của người dân, nhường đất làm thủy điện. (Ảnh: Vũ Điệp)
Mặc dù thủy điện chiếm tỷ trọng đáng kể nhưng toàn bộ hệ thống không có dự phòng cho nên bất cứ biến động nhỏ nào như bất lợi về thủy văn, ngưng bảo trì, sửa chữa do sự cố, biến động giá xăng dầu, khan hiếm than, khí thì hệ thống rơi ngay vào tình trạng thiếu điện.

Nếu hệ thống có độ dự phòng, thì thủy điện có thể tích nước phòng khi khô hạn. Trong khi đó, cả hệ thống phải ăn đong từng ngày, thì thủy điện, cũng ăn đong từng mét nước. Đấy là chưa kể còn phải đi mua điện tận Trung Quốc, dễ gặp nhiều rủi ro không lường trước.

Hầu hết các hồ chứa thủy điện vừa và nhỏ do chủ đầu tư đứng ra thuê tư vấn lập quy trình vận hành hồ chứa phục vụ cho mục đích riêng của mình nên có nhiều bất cập. Quy trình vận hành hồ chứa, được cấp có thẩm quyền phê duyệt, nhiều khi các hồ chứa chỉ làm cho có, báo cáo kỹ thuật để thuyết minh quy trình không đủ để chứng minh các số liệu thể hiện trong quy trình.

Các công trình thuỷ lợi chỉ có quy trình vận hành bảo đảm an toàn cho công trình và theo biểu đồ cấp nước. Quy trình vận hành liên hồ mùa lũ mới chỉ có lưu vực sông Vu Gia-Thu Bồn, Sông Ba do Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt nhưng còn nhiều vấn đề cần xem xét lại.

Nguyên tắc lập quy trình vận hành là dựa trên các tài liệu địa hình, khí tượng thủy văn xác định lưu lượng đến hồ đươc tính toán bằng mô hình thủy văn mưa dòng chảy (mô hình NAM). Tính toán mô hình thủy lực hệ thống sông bằng mô hình thủy lực hệ thống sông (mô hình MIKE 11) . Biên trên của mô hình thủy lực là quá trình lưu lượng theo thời gian Q = f(t). Biên dưới của mô hình thủy lưc là quá trình mực nước theo thời gian Z = f(t) tại các cửa sông đổ ra biển.

Các vết lũ lịch sử 10/1999 được sử dụng trong quá trình mô phỏng để chọn bộ thông số cho mô hình thủy lực. Tính toán mô phỏng và kiểm định mô hình xem xét giữa sai số thực đo và tính toán với bộ thông số của mô hình.

Trong bài toán vận hành hồ chứa, có 2 khối rất quan trọng đó là khối quy trình vận hành bao gồm xả nước, đón lũ, điều tiết cắt giảm lũ và diễn toán lũ sau khi điều tiết qua các hồ chứa và mạng sông về dưới hạ lưu..

Một số tồn tại: Công nghệ dự báo mưa, dòng chảy trên hệ thống sông sử dụng mô hình HRM, ETA ứng dụng cho các trạm khí tượng thủy văn chỉ chính xác 60-65% với thời gian dự kiến 48 giờ, và chính xác 50-60 % thời gian dự kiến 05 ngày. Khả năng dự báo dòng chảy trên sông chỉ đạt 50-65% do mật độ phân bố trạm mưa không đều, địa hình bị chia cắt, phân hóa mạnh.

Tiêu chí xây dựng hồ chứa thủy điện ở miền Trung ưu tiên theo thứ tự: An toàn công trình, phát điện, cấp nước cho hạ du, chống lũ. Thực tế quy trình việc cấp nước cho hạ du không rõ ràng. Với nhận thức tầm nhìn mới, phải đảo lại thứ tự ưu tiên: 1) An toàn công trình. 2) Cắt giảm hoặc chống lũ cho hạ du. 3) Đảm bảo nhu cầu dùng nước tối thiểu cho hạ du. 4) Phát điện.

Nếu đổi lại thứ tự ưu tiên, phải hy sinh phần phát điện cho mục tiêu chống lũ ở những vùng cần thiết thì phải điều chỉnh lại bài toán quy trình vận hành hồ chứa thủy điện.

Chế tài xử lý
Cần rà soát, bổ sung lại quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch của các ngành, và địa phương trong điều kiện biến đổi khí hậu. Tính toán lại một cách hệ thống lũ khả năng lớn nhất ở những công trình trọng điểm ảnh hưởng trực tiếp đô thị và dân cư sống ở vùng hạ lưu đập.

Tùy điều kiện có thể ứng dụng các phương pháp đơn giản như tính mưa khả năng theo phương pháp thống kê, nếu đủ tài liệu tính theo phương pháp cực đại hóa trận mưa hoặc chuyển vị bão. Kiểm tra lại toàn bộ cơ sở hạ tầng, các tuyến đường giao thông phải có đủ khẩu độ tràn. Các hồ chứa sau khi kiểm tra thấy cần thiết phải mở rộng tràn hoặc xây thêm tràn sự cố hay còn gọi là tràn dự phòng để đảm bảo thoát lũ khi cần thiết.
Ảnh minh họa: Dân trí
Cần đẩy mạnh việc nghiên cứu cơ sở khoa học để sớm ban hành quy trình vận hành cho tất cả liên hồ chứa còn lại kể cả mùa lũ và mùa khô. Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi cho các công trình thủy điện nên xem xét quy định "dòng chảy tối thiểu " cho hợp lý.

Cần nâng cấp các cống tiêu, nạo vét các trục để tăng cường khả năng tiêu thoát. Nâng cấp hệ thống đê biển và đê vùng cửa sông, xây dựng các tuyến đê mới để chống được mức nước triều với tần suất P=5% có gió bão cấp 9, 10 cộng thêm mức tăng do nước biển dâng.

Nâng cao chất lượng công tác dự báo, để tăng hiệu ích của hồ chứa. Duy trì dung tích phòng lũ theo thời đoạn, thay đổi quy trình thông báo xả lũ trước 02 giờ thành 06 giờ để người dân kịp thời ứng phó.

Ban hành quy định quy trách nhiệm, chế tài xử lý cấp quyết định đầu tư, chủ đầu tư công trình khi công trình gây sự cố. Ban hành quy định quy trách nhiệm, chế tài xử lý tổ chức, cá nhân trình phê duyệt, và phê duyệt quy trình không đảm bảo chất lượng, để xảy ra thiệt hại, sự cố.

Ban hành quy định phối hợp quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng, quy hoạch phòng chống thiên tai. Điều chỉnh, bổ sung nhiệm vụ các hồ thủy điện hiện có trên các lưu vực sông để hài hòa lợi ích, ưu tiên bảo đảm nhiệm vụ cho an toàn công trình, an toàn vùng hạ du và vùng lân cận.

Coi trọng các biện pháp phi công trình như tăng cường độ chính xác cho công tác dự báo mưa lũ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất thích hợp với biến đổi thời tiết, bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng ven biển. Để chủ động ứng cứu tại chỗ cần xây dựng các khu nhà phòng tránh kiên cố, nơi cư trú an toàn, dự trữ lương thực, thuốc men, ghe thuyền, phao cứu hộ. Việc đầu tư cho các khu nhà ở kiên cố, đường cứu hộ là biện pháp hữu hiệu, an toàn, rẻ rất nhiều so với sự mất mát, tàn phá của lũ lụt như hàng chục năm qua.

"Thủy tai, thủy hại" hay thủy lợi?
Đối với nước nghèo như Việt Nam lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, bão lũ xảy ra thường xuyên, vấn đề này càng trở nên đặt biệt nghiêm trọng. Nhà nước đã có nhiều giải pháp và bài học kinh nghiệm phòng tránh thiên tai nhưng xem ra đây vẫn là một thách đố lớn!

Biến đổi khí hậu là vấn đề hệ trọng của sự phát triển, là thách thức lớn nhất đối với mục tiêu phát triển bền vững, hiểm họa tiềm tàng đối với nhân loại. Thích ứng một cách chủ động, có các biện pháp công trình kết hợp với phi công trình là yêu cầu tất yếu đối với các nước, đặc biệt là nước còn nghèo như Việt Nam.

Để phòng tránh thiên tai và “nhân tai” một cách hữu hiệu, cần phải quyết liệt thực hiện các biện pháp có tính hệ thống và đồng bộ.

Từ mảnh sắt con người làm ra cây dao, nhưng tên con dao có khác nhau theo mục đích sử dụng: Công cụ lao động với bà nội trợ, vũ khí tự vệ để giết thú dữ và hung khí gây án của kẻ côn đồ.

Nếu quy hoạch, tính toán thiết kế, thi công và quản lý vận hành các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi sai thì những công trình này sẽ là những thuỷ tai, “thuỷ hại”. Với tầm nhìn, mục tiêu phát triển bền vững và yêu cầu của cuộc sống, thiết nghĩ đã đến lúc phải có tổ chức mới đủ mạnh cho ngành tài nguyên nước, đảm bảo nguyên lý quản lý tổng hợp theo lưu vực sông để khai thác tiềm năng có ích mà vẫn phòng tránh thiên tai một cách hiệu quả./.
Tô Văn Trường- ashui.com

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Tân GS trẻ nhất 2013: Nhận chức danh cao quý nhưng lòng trĩu buồn…

(Dân trí) - “Được đón nhận danh hiệu cao quý này, lòng tôi như se lại khi những ngày tháng qua, bão lũ lại tàn phá ở các tỉnh miền Trung trong đó có Hà Tĩnh quê hương tôi” - đó là chia sẻ của tân Giáo sư trẻ nhất Việt Nam năm 2013 Trần Đình Hòa.

Giáo sư (GS) Trần Đình Hòa, Phó Giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam là một trong 2 người ở trong nước được đặc cách GS ngành Thủy lợi. Năm 2012, người đầu tiên được đặc cách GS  là TSKH Phùng Hồ Hải - ngành Toán học. Điều thú vị là cả 2 GS được đặc cách này đều sinh năm 1970, quê Hà Tĩnh.
 
Tân GS Trần Đình Hòa nhận chứng nhận chức danh giáo sư tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) ngày 18/11/2013.
Xuất thân từ gia đình nông dân nghèo khổ
Chia sẻ với PV Dân trí khi nhận giấy chứng nhận giáo sư tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội), tân GS Trần Đình Hòa cho biết: “Tôi rất vui mừng và xúc động vì những cố gắng, nỗ lực phấn đấu không mệt mỏi suốt chặng đường gian nan vất vả đầy thử thách đến nay đã được các cấp lãnh đạo, các thành viên Hội đồng CDGS các cấp, các nhà khoa học lão thành và các đồng nghiệp đã ghi nhận những đóng góp của chúng tôi. Tôi trân trọng cảm ơn tới người thân trong gia đình, các nhà thành viên HĐCDGS các cấp, thầy cô, bạn bè đồng nghiệp... đã hỗ trợ giúp đỡ tôi trong chặng đường vừa qua”.

Bồi hồi nhớ lại ký ức ngày xưa, GS Trần Đình Hòa tâm sự: “Tôi xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo khổ tại thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Bố tôi là thương binh trong kháng chiến chống Pháp, mẹ làm ruộng. Để nuôi được 6 người con ăn học, bố mẹ, ngoài làm ruộng ra đã phải làm thuê lo đủ ăn cho từng bữa. Nhưng vẫn động viên cả nhà cố gắng để cho được học đến đại học”.

Có lẽ, tuổi thơ nghèo khó, quê hương nghèo khó đã luôn ám ảnh trong tâm trí của GS Hòa, thôi thúc anh trong từng bước đường sự nghiệp. Phát biểu tại buổi lễ nhận chức danh giáo sư, GS Trần Đình Hòa lặng buồn: “Về cá nhân tôi, nhìn lại quá trình phấn đấu của mình để được đón nhận danh hiệu cao quý này, lòng tôi như se lại khi những ngày tháng qua, bão lũ lại tàn phá ở các tỉnh miền trung trong đó có Hà Tĩnh quê hương tôi. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, ở miền quê mà luôn chung sống với lũ lụt và hạn hán, tôi luôn trăn trở phải làm điều gì đó có ý nghĩa để giúp cho quê hương và đó cũng là mối lương duyên đến với ngành Thủy lợi”.

“Chúng tôi mong muốn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao hơn nữa của Đảng, Nhà nước trong việc tiếp tục đổi mới và ban hành các quy định, quy chế cụ thể, thật sự đi vào cuộc sống; tạo dựng được môi trường làm việc thẳng thắn, cởi mở và chuyên nghiệp giúp các nhà giáo, nhà khoa học lấy công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học là mục đích duy nhất, là khởi nguồn của mọi đam mê khoa học, là động lực lớn lao nhất trong công việc hàng ngày” - tân GS Trần Đình Hòa kiến nghị.
Số phận gắn với Thủy lợi
Tốt nghiệp Trường ĐH Thủy lợi năm 1992, GS Trần Đình Hòa về công tác tại Viện Khoa học Thủy lợi (nay là Viện KHTL Việt Nam). Trải qua hơn 20 năm với niềm đam mê và lăn lộn với công tác nghiên cứu khoa học (NCKH), ứng dụng và chuyển giao công nghệ, với những năm tháng miệt mài và tận tâm với nghề, GS Hòa đã cùng các đồng nghiệp đạt được một số kết quả bước đầu mang lại lợi ích thiết thực nhất định cho ngành Thuỷ lợi của nước nhà. Giải thưởng cao quý nhất của nhà nước mà GS Trần Đình Hòa (đồng tác giả) là Giải thưởng Hồ Chí Minh “Đặc biệt xuất sắc về Khoa học Công nghệ” cho Cụm công trình: Ngăn sông đập Trụ đỡ và đập Xà lan, năm 2012.

Đối với nghề nghiệp, có lẽ mỗi người một nghề và đó là số phận. Khiêm tốn nói về mình, GS Hòa cho hay: Tôi cũng luôn ý thức sâu sắc rằng, có được những thành quả đó, bên cạnh những nỗ lực của cá nhân, tôi thấy rất may mắn đã được làm việc trong một “tập thể lớn”, được tiếp xúc với những nhà lãnh đạo tài giỏi và tâm huyết như GS Nguyễn Tuấn Anh, GS Đào Xuân Học, những người thầy đáng kính như GS Trương Đình Dụ, GS Trần Đình Hợi  và những người anh mẫu mực như PGS Nguyễn Quốc Dũng, PGS Vũ Đình Hùng... cùng các đồng nghiệp, cộng sự hết sức nhiệt tình say mê với công việc như TS Trần Văn Thái, ThS Thái Quốc Hiền... Đặc biệt, được trực tiếp đối mặt giải quyết những vấn đề “lớn” của ngành Thủy lợi, nhất là trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay. Tuy nhiên, những kết quả mà chúng tôi đạt được là rất nhỏ bé trước những gì mà người dân và các thế hệ cán bộ, nhà khoa học ngành Thủy lợi đã làm được cho đất nước.
Nói về môi trường làm việc, theo GS Hòa, làm việc ở trong nước hay nước ngoài không phải là điều quan trọng nhất, vấn đề là mình có phát huy, cống hiến được nhiều nhất cho nghề nghiệp mà mình đã gắn bó hay không.

Các nhà khoa học vẫn đang mắc nợ với nhân dân
Được làm việc trong mồi trường tốt, được cống hiến rất nhiều nhưng GS Hòa luôn trăn trở về những vấn đề khoa học mà các nhà khoa học trong ngành vẫn đang còn mắc nợ với nhân dân - đó là làm sao để hạn chế tối đa những thiệt hại về người và của trong lũ lụt, hạn hán, thiên tai - đó là phải làm sao cho “Đất và Nước” được hài hòa tạo ra hiệu quả, mang lại lợi ích cao nhất như lời Bác Hồ đã dạy. Tất nhiên, đây không phải là vấn đề đơn giản có thể giải quyết được trong một sớm, một chiều - GS Hòa nhận định.

Chia sẻ về công tác NCKH, GS Hòa cho hay, trong NCKH hay bất cứ ngành nghề nào khác muốn có thành công đều phải có lòng đam mê với nghề, tâm huyết với nghề, làm việc nhiệt tình có trách nhiệm. Đặc biệt trong NCKH phải hết sức trung thực, khách quan và kiên trì.
GS Trần Đình Hòa (thứ 4 từ phải qua) tại công trình Thủy lợi kênh Xà No (Hậu Giang).
Giải thích tại sao hiện nay nhiều bạn trẻ Việt Nam không thích NCKH, GS Hòa cho rằng: “Không phải giới trẻ Việt Nam không thích NCKH. Truyền thống Việt Nam là đất học, trong việc học có cả phần nghiên cứu. Nhiều người trẻ vẫn rất thích nghiên cứu nhưng hoàn cảnh thực tế phải lo toan cuộc sống buộc họ phải chọn cho mình rẽ sang một con đường khác “thực tế” hơn và đi chệch mong muốn mà họ đã từng có.

“Không phải ai cũng có thể làm nhà khoa học, cũng như không phải ai cũng có thể trở thành doanh nhân giỏi, do đó điều quan trọng là phải tự đánh giá khả năng, năng lực, sở trường của mình để chọn lựa nghề nghiệp cho phù hợp. Điều quan trọng là ở bất cứ ngành gì, lĩnh vực hay nghề nghiệp gì cũng cần có đam mê, trách nhiệm và tâm huyết với nghề. Trong xã hội, đóng góp lớn hay nhỏ, khoa học hay sản xuất, lý luận hay thực tiễn đều có giá trị và đều được trân trọng và ghi nhận. Hãy cố gắng, kiên trì nỗ lực hết mình với ngành nghề và công việc mình đã chọn thì thành công sẽ đến với mình” - GS Hòa chia sẻ.

Tân GS Trần Đình Hòa, người duy nhất được đặc cách GS năm 2013 hiện là Phó giám đốc Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Giáo sư Hòa đã tham gia các công trình đoạt giải thưởng lớn như:
+ Nhóm tác giả Giải khuyến khích giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTECH) năm 2004 cho Công nghệ Đập Trụ Đỡ;
+ Đồng tác giả Giải ba giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam (VIFOTECH) năm 2006 cho Công nghệ Đập Xà Lan Di Động;
+ Đồng tác giả: Giải nhất “Giải thưởng Công nghệ ACECC” của Hội đồng điều phối xây dựng châu Á – Thái Bình Dương (ACECC) năm 2007, cho “Công nghệ đập Xà Lan di động”.
+ Đồng tác giả: Giải thưởng Hồ Chí Minh “Đặc biệt xuất sắc về Khoa học Công nghệ” cho Cụm công trình: Ngăn sông đập Trụ đỡ và đập Xà lan, năm 2012 ;
+ Đồng tác giả: Giải thưởng Bông lúa vàng Bộ NN&PTNT năm 2013.
+ Đồng tác giả: 02 bằng độc quyền sáng chế.
Chủ trì và tham gia hơn 20 đề tài nghiên cứu các cấp, các công trình đề tài nghiên cứu KH.
Ngoài ra, GS Trần Đình Hòa, chủ trì và tham gia hơn 20 đề tài nghiên cứu các cấp, các công trình đề tài nghiên cứu khoa học khác.

Hồng Hạnh

Bài đăng phổ biến