Hiển thị các bài đăng có nhãn CongNgheXayDung. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CongNgheXayDung. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Công nghệ mới xử lý đất nền yếu ở Việt Nam

Mới đây, các chuyên gia Phần Lan đã giới thiệu công nghệ gia cố đất nền yếu tận dụng phế thải của các ngành công nghiệp khác như tro bay, xỉ than… đang được ứng dụng trực tiếp tại một dự án ở Việt Nam. 

Gia cố đất nền yếu bằng công nghệ xanh
Việt Nam được biết đến là nơi có nhiều đất yếu, đặc biệt lưu vực sông Hồng và sông Mê Kông. Nhiều thành phố và thị trấn quan trọng được hình thành và phát triển trên nền đất yếu với những điều kiện hết sức phức tạp của đất nền, dọc theo các dòng sông và bờ biển. Thực tế này đã đòi hỏi phải hình thành và phát triển các công nghệ thích hợp và tiên tiến để xử lý nền đất yếu.
Hội thảo về “Xây dựng Tiêu chuẩn xử lý nền đất yếu- Phương pháp xử lý nông và giới thiệu công nghệ xử lý nền đất yếu theo phương pháp ổn định toàn khối” diễn ra sáng ngày 28/11.
Ngày 28/11/2015, Hội thảo về “Xây dựng Tiêu chuẩn xử lý nền đất yếu- Phương pháp xử lý nông và giới thiệu công nghệ xử lý nền đất yếu theo phương pháp ổn định toàn khối” đã diễn ra tại Hà Nội.

Tại hội thảo, các chuyên gia Phần Lan đã giới thiệu Công nghệ gia cố nông, xử lý nền đất yếu theo phương pháp ổn định toàn khối.

Công nghệ này sẽ giúp phần cải tạo, biến đổi nền đất bùn, đất yếu thành nền đất có cường độ cao, khắc phục được hiện tượng sụt lún, chịu được tải trọng của các dạng công trình khác nhau từ các công trình xây dựng dân dụng cho đến các công trình giao thông, sân bay, cầu cảng…

Đặc biệt, công nghệ này giúp tận dụng đất bùn phế thải, là loại đất chỉ có thể đổ bỏ đi, gây ô nhiễm môi trường thành một loại đất mới có thể sử dụng được làm nền và móng cho công trình xây dựng. Ngoài ra, đối với các loại đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn, hoặc bị ô nhiễm, sử dụng công nghệ này cũng góp phần giúp cải tạo và khai thác những loại đất đó một cách có hiệu quả.

Bên cạnh đó, nó còn góp phần bảo vệ môi trường do tận dụng phế thải của các ngành công nghiệp khác như tro bay, xỉ than của các nhà máy nhiệt điện làm chất phụ gia, kết dính để sử dụng cho chính việc xử lý nền đất yếu này.

Công nghệ gia cố nông, xử lý nền đất yếu theo phương pháp ổn định toàn khối hiện đang được áp dụng tại một số công trình ở Việt Nam.

Trong đó, Công ty cổ phần Phát triển công nghệ xanh bền vững BCX - Một trong những công ty hàng đầu Việt Nam chuyên về công nghệ xử lý đất nền/ gia cố nền đất yếu BCX đã được Tập đoàn Bitexco giao nhiệm vụ nhận chuyển giao, phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ gia cố nông, xử lý nền đất yếu theo phương pháp ổn định toàn khối từ Phần Lan để áp dụng tại Việt.
Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Quang Hùng tham quan mô hình áp dụng công nghệ tại dự án KĐT The Manor Central Park (Đại Kim - Hoàng Mai)
Cần làm rõ khác biệt trước khi ban hành tiêu chuẩn
Sau khi trực tiếp tham quan dự án khu đô thị The Manor Central Park (Đại Kim - Hoàng Mai), công trình đang trong quá trình áp dụng phương pháp gia cố nông toàn khối, phát biểu tại hội thảo Thứ trưởng Bộ Xây Dựng Lê Quang Hùng cho biết, bản chất của công nghệ này là có trộn xi măng và phụ gia để cứng hóa lớp đất.

“Tôi rất hy vọng qua hội thảo này các chuyên gia sẽ làm rõ tính chất ưu việt của kỹ thuật này về mặt kỹ thuật về mặt kinh tế so với các phương pháp khác đang áp dụng ở Việt Nam cũng như chỉ ra được với công nghệ này thì áp dụng trong lĩnh vực nào, tình huống nào. Về mặt tiêu chuẩn ban soạn thảo cũng như Bộ Khoa học - Công nghệ cân nhắc xem xét đây là tiêu chuẩn cơ sở hay là chuẩn Việt Nam” -Thứ trưởng nói.

Ông Vũ Quang Bảo - Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Phát triển công nghệ xanh bền vững BCX cho rằng: “Hiện nay, việc bảo vệ môi trường đang là thách thức toàn cầu và Việt Nam là một trong 10 quốc gia chịu ảnh hưởng lớn nhất về các vấn đề liên quan đến môi trường. Đối với Bitexco, trong bất kỳ công trình nào, kiến trúc xanh và chống biến đổi khí hậu luôn được ưu tiên hàng đầu. Với định hướng này, công ty BCX đã được ra đời với sứ mệnh quan trọng là phát triển các công nghệ xanh, bền vững và thân thiện với môi trường. Công ty BCX đã được Tập đoàn Bitexco giao nhiệm vụ nhận chuyển giao, phát triển và ứng dụng rộng rãi công nghệ gia cố nông, xử lý nền đất yếu theo phương pháp ổn định toàn khối từ Phần Lan để áp dụng tại Việt Nam.”

Ông Pentti Viitikko - Chủ tịch của công ty RUSOL Phần Lan - đơn vị đối tác của BCX chia sẻ: “Chúng tôi đã chọn BCX để bàn giao giải pháp ổn định khối lượng này. Tại thời điểm này chúng tôi đang trong quá trình thử nghiệm các công trình trong thành phố Hà Nội. Chúng tôi coi đây là một sự khởi đầu của công nghệ này để lan rộng ở Việt Nam. Chúng tôi hy vọng rằng các tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ được phê duyệt và công bố khá sớm như tất cả các thông tin từ tiêu chuẩn châu Âu đã được chuyển giao cho các đối tác địa phương và cơ quan chức năng”.

Trong khuôn khổ nội dung hội thảo, các chuyên gia, đơn vị hy vọng công nghệ gia cố nông xử lý nền đất yếu theo phương pháp ổn định toàn khối này sẽ sớm được đưa vào áp dụng cho các dự án các công trình xây dựng trên nền đất yếu tại Việt Nam đóng góp vào chủ trương chung về phát triển kinh tế xã hội đang được chính phủ Việt Nam thúc đẩy và triển khai./.


(VietNamNet)

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

Soil nail wall - Soil nailing - soil nailing walls

Soil nail walls consists of installing passive reinforcement (i.e., no post-tensioning) in existing ground by installing closely spaced steel bars or sections (i.e., nails) and placing a front face support. Soil nails are later grouted if they are installed in drilled holes. Ungrouted soil nails are also possible if nails (or steel sections) are driven into the ground. Figure 1 shows typical details of a soil nail wall:

Figure 1: Typical soil nail wall arrangement
Soil nail wall construction proceeds from the top to bottom, and head plates are installed on each nail.  Shotcrete or concrete is typically applied on the excavation face to provide continuity when a soil nail wall is constructed.  For a soil nail wall the general construction procedure involves:

a) Excavate for the first nail (soil must be sufficiently self standing)
b) Install the 1st nail.
c) Construct 1st phase shotcrete on soil face (optional if shotcrete is constructed) with wire mesh or other reinforcement if required.
d) Install soil nail head plate (with or without other attachments, Figure 2)
e) Construct 2nd phase shotcrete (depending on staging specifications).
f) Excavate to next soil nail level, and install next soil nail, shotcrete etc.
g) Repeat steps c) through f) until the final excavation level is reached.
h) Construct additional permanent facing if required.

* Drainage filters and drainage pipes are also commonly installed during construction.
 
Figure 2: Typical soil nail head plate and shotcrete details (US Practice)
Soil nailing is typically used to stabilize existing slopes or excavations where top-to-bottom construction is advantageous compared to other retaining wall systems. For certain conditions, soil nailing offers a viable alternative from the viewpoint of technical feasibility, construction costs, and construction duration when compared to ground anchor walls, which is another popular top-to bottom retaining system.

Soil nail walls are particularly well suited to excavation applications for ground conditions that require vertical or near-vertical cuts and have been shown to be particularly well suited in the following temporary or permanent applications:
  • Roadway cut excavations.
  • Road widening under an existing bridge end.
  • Repair and reconstruction of existing retaining structures.
  • Temporary or permanent excavations in an urban environment.

Soil nailing has proven economically attractive and technically feasible when:
  • The soil in which the excavation is constructed is able to stand unsupported in a 1- to 2-m (3- to 6-ft) high vertical or nearly vertical cut for one to two days.
  • All soil nails within a cross section are located above the groundwater table
  • If soil nails are below the groundwater table, and the groundwater does not adversely affect the face of the excavation, the bond strength of the interface between the grout and the surrounding ground, or the long-term integrity of the soil nails (e.g., the chemical characteristics of the ground do not promote corrosion).

Soil nail advantages

Soil nail walls exhibit numerous advantages when compared to ground anchors and alternative topdown construction techniques. Some of these advantages are described below:

  • Requires smaller right of wat than ground anchors as soil nails are typically shorter;
  • Less disruptive to traffic and causes less environmental impact compared to other construction methods.
  • Provide a less congested work place, particularly when compared to bracedexcavations.
  • There is no need to embed any structural element below the bottom of excavation as with soldier beams used in ground anchor walls.
  • Soil nail installation is relatively rapid and uses typically less construction materials than ground anchor walls.
  • Nail location, inclination, and lengths can be adjusted easily when obstructions (cobbles or boulders, piles or underground utilities) are encountered. On the other hand, the horizontal position of ground anchors is more difficult to modify almost making field adjustments costly.
  • Since considerably more soil nails are used than ground anchors, adjustments to the design layout of the soil nails are more easily accomplished in the field without compromising the level of safety.
  • Overhead construction requirements are smaller than those for ground anchor walls because soil nail walls do not require the installation of soldier beams (especially when construction occurs under a bridge).
  • Soil nailing is advantageous at sites with remote access because smaller equipment is generally needed.
  • Soil nail walls are relatively flexible and can accommodate relatively large total and differential settlements.
  • Measured total deflections of soil nail walls are usually within tolerable limits.
  • Soil nail walls have performed well during seismic events owing to overall system flexibility.
  • Soil nail walls are more economical than conventional concrete gravity walls when conventional soil nailing construction procedures are used.
  • Soil nail walls are typically equivalent in cost or more cost-effective than ground anchor walls when conventional soil nailing construction procedures are used.
  • Shotcrete facing is typically less costly than the structural facing required for other wall systems.

Soil nail disadvantages

Some of the potential disadvantages of soil nail walls are:
  • Soil nail walls may not be appropriate for applications where very strict deformation control is required for structures and utilities located behind the proposed wall, as the system requires some soil deformation to mobilize resistance. Deflections can be reduced by post tensioning but at an increased cost.
  • Existing utilities may place restrictions on the location, inclination, and length of soil nails.
  • Soil nail walls are not well-suited where large amounts of groundwater seeps into the excavation because of the requirement to maintain a temporary unsupported excavation face.
  • Permanent soil nail walls require permanent, underground easements.
  • Construction of soil nail walls requires specialized and experienced contractors.


Soil nail wall construction sequence

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Tấm Fiber Cement

Tấm Fiber Cement là chủng loại vật liệu xây dựng mới cho trần, tường và vách ngăn với các tính năng ưu việt của nó. Đây là sản phẩm được sản xuất chính từ hỗn hợp xi măng pooc - lăng, oxit silic và sợi xenlulôzo.


Đặc tính:
  • Sự bền vững và an toàn
  • Chịu nước và độ ẩm cao của môi trường.
  • Không cháy, chống ngọn lửa lan toả.
  • Khả năng chịu được sự ăn mòn công nghiệp và môi trường.
  • Sử dụng cùng với vật liệu bảo ôn, có tính cách âm, cách nhiệt tốt (tiết kiệm năng lượng).
  • Tính mỹ thuật: linh hoạt, thoả mãn ý tưởng kiến trúc, hoàn toàn có thể sơn lên bề mặt tấm với màu sắc tuỳ ý.
  • Không mối mọt và ổn định kích thước
  • Độ cứng cao, trọng lượng nhẹ, chịu va đập, không cong võng, rạn nứt.
  • Dễ tháo lắp, lau chùi, dễ sửa chữa các thiết bị liên quan.
  • Là loại vật liệu xây dựng cấp 0

Ứng Dụng:
  • Làm trần và vách ngăn cho nhà ga, sân bay, khách sạn, cao ốc văn phòng, trường học, bệnh viện...
  • Làm trần , tường ngăn cho các khu vực ẩm ướt hoặc nơi có yêu cầu chống cháy cao như nhà máy, các khu vực sản xuất thuốc, chế biến thực phẩm, sản xuất đồ uống, nhà máy dệt may, kho vải, nơi phát hành sách báo, “phòng sạch”, tháp truyền hình...
  • Tấm ốp mặt trước, mái hắt, đầu hồi, mái che, tường bao cho nhà công nghiệp.
  • Hộp bảo vệ đường ống kỹ thuật, bảo vệ cho hệ thống cơ điện
  • Sử dụng làm lớp lót ống trong công nghiệp
  • Làm nền phủ Eboxy chống vi khuẩn
  • Làm tấm ốp, tấm lót lắp đặt các thiết bị vệ sinh
  • Tấm lót phẳng gia cố cách âm cho mái tôn hoặc mái ngói.
  • Làm biển quảng cáo và tấm lớn.
  • Làm sàn và tấm lót sàn
  • Làm thành, bậc cầu thang, tấm ngăn cho cầu cống
  • Làm cốp pha cho xây dựng nhà, cầu đường...


Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2014

CHISUIKAN – Nhà chống động đất của Nhật Bản

Xem đoạn video do Bệnh viện Chữ thập đỏ Ishinomaki (quần đảo Miyagi) quay cảnh bệnh viện trong giây phút động đất kinh hoàng ngày 11/3/2011, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi đội ngũ y bác sĩ quá bình tĩnh, không một gương mặt nào tỏ rõ sự lo lắng.

Trong khi tòa nhà bảy tầng này chao đảo thì tất cả mọi người giữ nguyên vị trí, triển khai công việc, một số chỉ lo giữ những chiếc tivi và thiết bị y tế để khỏi ngã đổ. Hỏi ra mới biết sở dĩ họ bình tĩnh như vậy vì ít nhiều họ biết tòa nhà này đã được thiết kế và xây dựng có thể chịu đựng động đất hơn 7 độ Richter. 

Không để thiệt hại một sinh mạng nào
Ở “xứ sở động đất” như Nhật, công nghệ chống động đất luôn được nâng cấp theo thời gian. Bệnh viện Chữ thập đỏ Ishinomaki trước đây nằm sát bờ biển, nay được dời vào sâu hơn trong đất liền, được xây dựng mới hoàn toàn và áp dụng các công nghệ chống động đất hiện đại nhất với mục tiêu an toàn cho bệnh viện và như lời ông Abe Masaaki, trưởng bộ phận kế hoạch của bệnh viện, là “không để thiệt hại một sinh mạng bệnh nhân nào” khi động đất xảy ra ở bệnh viện này.
Thiết bị cách ly động đất này đã giúp bệnh viện “sống” được sau động đất, sóng thần
Toàn bộ tòa nhà chính của bệnh viện được đặt trên một hệ thống gồm 126 thiết bị chống động đất gọi là thiết bị cách ly động đất (seismic isolation) do Tập đoàn Nikkei Seikei xây dựng. Chúng tôi xuống tầng hầm bệnh viện, thấy thiết bị này giống như những “con nhún” đặt dưới móng của tòa nhà. Khi động đất xảy ra, toàn bộ tòa nhà cao bảy tầng, rộng 9.455m2 này sẽ được 126 “con nhún” đẩy đưa “nhún” lên xuống và qua lại trên nền móng vững chãi của tòa nhà. Chính nhờ có thiết bị chống động đất như vậy, trong khi những tòa nhà lớn nhỏ xung quanh ngả nghiêng theo trận động đất 9 độ Richter ngoài khơi vùng Tohoku và đo được tại Ishinomaki 6 độ Richter ngày 11/3/2011, tòa nhà chính của bệnh viện vẫn không hề hư hại gì.

Bệnh viện Chữ thập đỏ Ishinomaki cũng được xem là mô hình kiểu mẫu về thiết kế chống động đất với hệ thống điện nước được đảm bảo dự trữ đủ cho ba ngày bị cúp điện, cúp nước. Với thiết kế của Nikkei Seikei, trong trường hợp bị cúp cả điện lẫn nước do động đất xảy ra, hệ thống điện tự sạc sẽ tự động kích hoạt cũng như hệ thống nước dự trữ có thể sử dụng ngay khi có sự cố.

Ông Abe Masaaki kể vào thời điểm trận động đất ngày 11/3 xảy ra là lúc bệnh viện đang có hai ca mổ, việc phẫu thuật chỉ bị tạm ngưng trong 10 giây là thời gian điện cúp và hệ thống điện dự trữ kích hoạt trở lại. Ba ngày sau, hoạt động trong tình trạng bị cô lập hoàn toàn, bệnh viện vẫn đủ điện và nước để đóng vai trò “tiền tuyến” chữa trị nạn nhân sóng thần. Những ngày đó tuyết rơi dày ở Miyagi, bệnh viện không chỉ là nơi chữa trị mà còn là một “lò sưởi” ấm áp cho nhiều người dân ở đây tránh cái lạnh của tuyết giá.

Nhà ở có thiết bị chống động đất
Tại Nhật, những thiết bị chống động đất đến nay đã được áp dụng rộng rãi trong các công trình từ cao ốc cho đến trường học, bệnh viện, công sở... Chỉ hai tuần sau trận động đất Tohoku xảy ra, nhóm nghiên cứu của Tập đoàn Nikkei Seikei đã đến thành phố Sendai lớn nhất vùng Tohoku vốn đã bị chấn động do những trận dư chấn hơn 7 độ Richter và nhận định: “Những gì chúng tôi thấy được không giống như thành phố Kobe sau trận động đất năm 1995. Chúng tôi bị ấn tượng khi thấy có rất ít nhà đổ sập, qua tìm hiểu các thiệt hại từ bên trong chúng tôi mới kết luận những tổn thất về mặt cấu trúc là rất nhỏ”.

Một nguyên nhân có thể giải thích được cho sự vững chãi của những tòa nhà này là Sendai đã bị động đất nhiều lần, các cao ốc lại được thiết kế đi liền với thiết bị cách ly động đất. Sau đó, khi tìm hiểu kỹ hơn về thiệt hại ở Sendai và các khu vực khác, nhóm nghiên cứu Nikkei Seikei cũng phát hiện sự kỳ diệu của công nghệ cách ly động đất đã cứu được bao nhiêu tòa nhà, bao nhiêu mạng người.

Tính đến nay tại Nhật đã có hơn 3.000 tòa nhà lớn nhỏ trên khắp nước sử dụng công nghệ cách ly động đất, trong đó có tháp truyền hình Tokyo Sky Tree chuẩn bị khánh thành vào tháng 5/2012. Tuy nhiên, sau những trận động đất lớn, người Nhật đã phải thay đổi cách suy nghĩ về việc thiết kế các công trình xây dựng nhằm giảm thiểu tối đa thiệt hại về vật chất và sinh mạng của người dân trước thiên tai. Nếu chỉ bảo vệ các cao ốc thôi chưa đủ, vấn đề là bảo vệ người dân. Mới đây, nước Nhật đã ra mắt mô hình khu căn hộ đầu tiên trên thế giới sử dụng hệ thống cách ly động đất ba chiều do Công ty Kozo Keikaku sáng tạo.

Được đặt tên là Chisuikan (khu nhà công nghệ thông minh), khu căn hộ này có ba tầng, cao 9m, diện tích xây dựng 260m2 trên khoảng đất rộng 460m2, không chỉ được bảo vệ trước những trận động đất xô đẩy về chiều ngang mà cả về chiều dọc. Thiết bị này bao gồm hai loại “bơm” cao su và không khí.

“Bơm” cao su đàn hồi theo chiều ngang có thể giảm được 1/8 rung lắc so với tòa nhà có thiết bị chống động đất bình thường, riêng hệ thống “bơm” không khí có thể giảm đến 1/3 các chấn động theo chiều dọc so với thiết bị chống động đất bình thường. Tổng hợp lại, khi ở trong nhà Chisuikan với hệ thống “bơm” đặt ở móng nhà có thể giảm được một nửa cường độ của động đất.

Chỉ hai tuần sau khi khu căn hộ Chisuikan hoàn thành và đưa vào sử dụng ở Suginami, tây nam Tokyo thì động đất ở Tohoku xảy ra, và từ “thí nghiệm” Chisuikan cho thấy đúng là khu căn hộ đã giảm được một nửa rung lắc do động đất gây ra so với các tòa nhà xung quanh.

Ông Takahashi Osamu - kỹ sư trưởng của nhóm thiết kế Công ty Kozo Keikaku - cho biết mục tiêu của nhóm nghiên cứu là làm sao giảm được giá tối đa của thiết bị để công nghệ thông minh này đến được với người dân rộng rãi hơn, vì hiện nay giá thuê nhà Chisuikan còn cao so với mức thu nhập của người dân trung lưu ở Tokyo.

Chính phủ Nhật cũng muốn mô hình Chisuikan được áp dụng rộng rãi hơn để mai này sẽ không có một ai phải bị thiệt mạng trong đống đổ nát do động đất nữa.

Nguồn: TT

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Áp dụng thành công công nghệ khoan kích ngầm dự án D3000

Sau 8 năm thi công gặp nhiều khó khăn, gói thầu số 7 thuộc dự án Vệ sinh môi trường TP lưu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè đã hoạt động theo đúng tiến độ. Sự thành công của dự án đánh dấu một bước ngoặt lớn trong việc áp dụng công nghệ khoan kích ngầm tại Việt Nam, khẳng định các kỹ sư và công nhân Việt Nam đã thi công được những công trình mà nhà thầu nước ngoài không thể hoàn thành.

Trong quá trình thi công gói thầu “Tuyến cống bao, thiết bị tách dòng và miệng xả ngầm” do Ban Quản lý Dự án Vệ sinh môi trường TP (lưu vực Nhiêu Lộc - Thị Nghè) thuộc Sở GTVT TP làm chủ đầu tư, nhà thầu Liên doanh TMEC & CHEC3 (Trung Quốc) tiến hành kích ống băng sông Sài Gòn được khoảng 183m/410m cống thì gặp sự cố, đầu khoan bị hỏng nước tràn vào đường ống và nhà thầu đã ngưng thi công. Đến ngày 29/4/2008 nhà thầu từ chối thi công đoạn kích ống băng sông còn lại này, tháo dỡ tất cả bộ phận máy móc và các thiết bị, đường ống phụ trợ... bỏ lại đầu khoan dưới đáy sông.
 
Kích ống dưới độ sâu 40m.
Tập trung gỡ khó, đẩy nhanh tiến độ
Anh Nguyễn Viết Tường Vũ - một kỹ sư trẻ, được giao nhiệm vụ Chỉ huy trưởng công trình “Kích ống D3000 băng sông Sài Gòn” cho biết, tiếp nhận “khúc xương” của nhà thầu Trung Quốc để lại, Công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị TP.HCM gặp nhiều khó khăn. Đây là công nghệ còn mới so với Việt Nam và phải thực hiện ở độ sâu tương đối lớn (40m), do công trình đã ngưng thi công hơn hai năm, đầu kích còn lại trong lòng cống hư hỏng nặng, tuyến cống bị bó cứng và nằm sâu trong lòng đất nên công tác giải kẹt, vệ sinh giếng kích, làm sạch tuyến cống, đầu khoan cũ, lắp đặt các thiết bị thi công mới tốn rất nhiều thời gian và công sức.

Trong quá trình giải kẹt, kích thử và kích liên tục, dự án đã gặp nhiều sự cố. Chẳng hạn, khi vận hành đầu khoan gặp rất nhiều dị vật như vỏ xe, dây cáp, dây thép, vỏ đạn... gây kẹt hệ thống bơm bùn và làm cháy mô tơ máy nghiền trộn đất đá của đầu kích. Hệ thống điện PLC điều khiển tự động của hệ thống đầu kích cũng bị hư hỏng nặng, đến ngày 17/8/2011 Công ty đã xử lý xong và tiếp tục kích ống. Ngoài ra do điều kiện môi trường thi công ẩm ướt nên các sự cố hư hỏng về thiết bị điện liên tục xảy ra. Hơn nữa, tuyến cống cũ do nhà thầu Trung Quốc để lại đã bị lệch tọa độ so với giếng bờ Đông là rất lớn (phương ngang 800mm và theo phương đứng 750mm) nên công tác kiểm tra, định vị và điều khiển đầu kích vào giếng bờ Đông phải hết sức thận trọng. Vì thế, mặc dù khả năng kích cống có thể thực hiện từ 3-4 cống/ngày nhưng Công ty chỉ kích 1 cống/ngày để định vị đầu khoan đúng tim tuyến kích, điều này cũng làm kéo dài thời gian thi công.

Để hoàn thành công trình trước thời hạn, tập thể kỹ sư, công nhân Ban Điều hành dự án đã làm việc  24/24 giờ, bất kể ngày thứ bảy, chủ nhật, mưa hay nắng, trong điều kiện môi trường lao động dưới độ sâu 40m. Thời gian kích một chiếc cống dài 3m, nặng 27 tấn  kéo dài từ 8-12 giờ, khó khăn là thế nhưng với quyết tâm, ý chí, đội ngũ 54 người CB-CN đã lao động sáng tạo, làm chủ công nghệ mới, hoàn thành công trình một cách xuất sắc, bảo đảm thời gian, chất lượng.
Thời gian kích một chiếc cống dài 3m, nặng 27 tấn từ 8-12 giờ.
Tiên phong trong công nghệ khoan kích ngầm
Công nghệ khoan kích ngầm là công nghệ mới ở Việt Nam, khi ứng dụng thể hiện nhiều ưu điểm so với công nghệ đào hở truyền thống là ít chiếm dụng mặt bằng, giảm ùn tắc giao thông, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và ít ảnh hưởng đến đời sống của người dân so với việc đào đường thông thường.

Gói thầu 7B hoàn thành đã khẳng định được Công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị TP.HCM là nhà thầu Việt Nam đầu tiên đi tiên phong trong việc thực hiện khoan kích ngầm. Dự án thành công có ý nghĩa rất lớn, một mặt đào tạo được đội ngũ cán bộ có đủ năng lực để thực hiện các dự án khoan kích ngầm của TP trong tương lai, mặt khác tiết kiệm được nguồn ngân sách lớn cho TP trong điều kiện kinh tế đất nước còn nhiều khó khăn.

Công trình còn tiết kiệm chi phí, gần 75 tỷ đồng (tương đương 3,9 triệu USD), so với các dự toán của các phương án khác để thực hiện tiếp tục khoan kích ngầm băng sông Sài Gòn. 

Bằng những cố gắng nỗ lực của đội ngũ công nhân kỹ thuật, dự án khoan kích băng sông Sài Gòn được công nhận và khen thưởng sáng kiến cải tiến kỹ thuật năm 2011 với tên đề tài sáng kiến “Biện pháp giải kẹt và thi công tuyến cống D3000 băng sông Sài Gòn bằng công nghệ khoan kích ngầm” mang lại hiệu quả tiết kiệm cho ngân sách Nhà nước khoảng 87,5 tỷ đồng và rút ngắn thời gian hoàn thành công trình 430 ngày.
giaothongvantai.com

Thứ Năm, 20 tháng 6, 2013

Làm đường nông thôn bằng công nghệ túi đất

Việt Nam đang hướng tới mục tiêu xây dựng nông thôn mới, việc ứng dụng công nghệ túi đất (Do-Nou) để làm đường  giao thông nông thôn hoàn toàn hữu ích, bởi chi phí thấp, tận dụng nguyên liệu tại chỗ, thân thiện với môi trường và không yêu cầu cao về công nghệ.

Công nghệ túi đất có thể ứng dụng được ở các vùng miền núi
TS. Nguyễn Hoàng Long – Trưởng khoa Công trình – ĐH Công nghệ giao thông vận tải - cho biết, tại Việt Nam, tỷ lệ đường chưa được cứng hóa tới gần 70%, nhiều tuyến đường không đi lại được vào mùa mưa, ảnh hưởng đến việc vận chuyển nông sản ra thị trường.
Nguyên nhân đường có chất lượng kém, nhanh xuống cấp là do cốt nền chưa được xử lý tốt, thất thoát nguyên liệu. Vấn đề nâng cấp đường giao thông nông thôn, nhất là giao thông nội đồng ngày càng cấp thiết, nhất là với những vùng thiếu vật liệu cát và đá, như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hay miền núi phía Bắc.
Làm đường nông thôn bằng công nghệ túi đất
Tuy nhiên, trên thực tế, không phải địa phương nào cũng có sẵn kinh phí để triển khai và không phải địa điểm nào cũng có thể đưa máy móc chuyên dụng vào để làm đường.

Sử dụng công nghệ Do-Nou trong điều kiện giao thông của Việt Nam có nhiều ưu điểm.
GS Kimura Makoto
Thứ nhất, tăng sức chịu tải của nền, khắc phục được những nhược điểm của loại đường không xử lý mặt.
Thứ hai, tận dụng được vât liệu địa phương, phế thải xây dựng, tăng được sức chịu tải của vật liệu đất (rất có ý nghĩa khi địa phương thiếu vật liệu đắp).
Thứ ba, đơn giản trong thi công, sử dụng được lao động phổ thông do vậy chủ động được trong việc xây dựng, sửa chữa.
Thứ tư, có thể tải sử dụng khi cần nâng cấp cải tạo. Thứ năm, thân thiện môi trường.
Khởi nguyên, túi đất được sử dụng để chống tràn đập, nhưng GS Kimura Makoto – ĐH  Kyoto – Nhật Bản đã thay thế phương thức đơn thuần bằng vải địa kỹ thuật (bao tải) để làm đường chắn, đập thủy lợi, cống... và đã áp dụng thành công tại Kenya, Philippin, Uganda...

Công nghệ Do-Nou sử dụng sức lao động là chính, dụng cụ đơn giản là những chiếc đầm bằng gỗ. Túi đất có chiều dài 40 cm, rộng 40 cm, cao 10cm, đựng 20 kg vật liệu. Vật liệu rất đa dạng, có thể dùng phế thải xây dựng (bê tông xi măng, bê tôngAsphalt, gạch gói) và bao tải tái chế.

Theo kết quả nghiên cứu của trường ĐH Kyoto – Nhật Bản, khi sử dụng túi đất đúng quy cách để gia cường cho nền móng, khả năng chịu tải của nền tăng tới 10% so với kết cấu bê tông và tuổi thọ có thể đạt trên 10 năm.

Tuy nhiên, khả năng chịu tải của bao tải đất phụ thuộc lớn vào cường độ chịu kéo của bao và vật liệu đưa vào bao. GS Kimura nói: “Việc chọn loại bao, loại đất và công tác đầm nén khi đưa đất vào bao nhằm tăng góc ma sát là đặc biệt quan trọng”.

Với công nghệ Đo-no, theo GS Kimura, người nông dân Việt Nam có thể tự làm đường, nhất là những nơi máy móc cơ giới không tiếp cận được với chi phí thấp, chỉ khoảng 19 USD/m.
Việt Nam cũng có thể ứng dụng công nghệ này ở các vùng miền núi, nhưng phải kiểm soát được mức độ nước chảy và nên tạo rãnh thoát nước, để tránh gây xói mòn.

Một vấn đề đặt ra khi tiến hành thực tế với vật liệu địa phương: Có cần phải thực hiện các thí nghiệm về cấp phối đất và độ đầm chặt tiêu chuẩn không? Nếu có thì liệu có khả thi khi chỉ phục vụ triển khai thi công trên quy mô nhỏ?
Làm đường nông thôn bằng công nghệ túi đất
GS Kimura nói: Chúng tôi không làm thí nghiệm này trong phòng mà chỉ ước tính ngoại hiện trường và sử dụng thêm máy kiểm tra sức chịu tải của nền sau gia cố.

Một vấn đề khác nữa, khi áp dụng công nghệ này cho đập thủy lợi nông thôn thì vật liệu đưa vào túi phải như thế nào mới đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật tối thiểu là giữ nước cho đập?
Dự án thí điểm ứng dụng công nghệ “Do-nou” nằm trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ của JICA cho các học viên có tiềm năng áp dụng công nghệ của Nhật Bản sau khi tham gia học tập tại Nhật.
Dự án là sự hợp tác của Chủ nhiệm dự án, thạc sỹ Nguyễn Thị Loan và giáo sư Kimura Makoto, Đại học Kyoto, Nhật Bản trong việc chuyển giao, áp dụng công nghệ xây dựng đường của Nhật Bản vào Việt Nam.
Gs Kimura giải thích: Chúng tôi dùng đất sét đưa vào tủi để giải quyết vấn đề này. Ông cũng lưu ý là đập chỉ nên làm cao tối đa 1.5m.

Ứng dụng công nghệ Do-Nou trong xây dựng, bảo trì đường giao thông nông thôn Việt Nam vừa được thử nghiệm thành công tại xã Tân Ước, huyện Thanh Oai, Hà Nội.

Theo ông Nguyễn Tuấn Anh – Phó Chủ tịch huyện Thanh Oai, hiện giao thông nông thôn huyện Thanh Oai đã 100% bê tông hóa song giao thông nội đồng rất khó khăn.

Ông Tuấn Anh tin tưởng: “Việc ứng dụng công nghệ Do-Nou tại xã Tân Ước sẽ góp phần giúp bà con nông dân giải quyết khó khăn, đảm bảo giá nông sản, tăng năng suất nông nghiệp lên mức cao hơn”.


Đình Thiện

Thứ Ba, 19 tháng 3, 2013

"Công nghệ" xây thành nhà Hồ- bí mật đã được giải mã

Chỉ với công cụ thô sơ, vì sao dân ta có thể dùng những khối đá nặng hàng chục tấn để tạo nên các vòm cuốn kiệt tác ở thành nhà Hồ? Đó là điều lâu nay vẫn khiến nhiều người thắc mắc.
Công trình quân sự kiệt tác
Nhà Hồ chính thức tồn tại được 7 năm trong khi những hoài bão cải cách của Hồ Quý Ly còn đang dang dở. Nhà Hồ thành lập không được lòng dân, lại gặp lúc nhà Minh ở thế vương triều mới lập, sức mạnh đang lên nên nhanh chóng mất nước. Trong 6 năm tồn tại ngắn ngủi đó, triều Hồ cũng đã để lại cho đời sau 1 di sản độc đáo là thành nhà Hồ.
Thành nhà Hồ có nhiều tên gọi khác như thành An Tôn, thành Tây Đô… Gọi là thành nhà Hồ là gắn liền với triều đại đã xây nên nó. Gọi thành An Tôn là dựa theo địa danh, khu vực xây thành, dưới triều Trần được gọi là động An Tôn. Gọi Tây Đô là vì xét theo vị trí kinh tuyến thì thành này nằm ở phía tây so với Thăng Long.
Cổng chính của thành với 3 vòm cuốn – là hình ảnh quen thuộc khi nói tới thành nhà Hồ.
Thành nhà Hồ có chiều dài 883,5 m theo hướng Đông – Tây, chiều rộng 870,5 m theo hướng Nam – Bắc. Nét đặc biệt của tòa thành này so với các tòa thành khác ở nước ta là được xây dựng bằng đá và các vòm cuốn rất đẹp. Tòa thành có 4 cổng. Trong đó cổng chính ở phía Đông Nam có 3 vòm cuốn bằng đá. Chiều cao từ chân lên đến nóc vòm cuốn là gần 8m. Vòm cuốn chính giữa cao 5,75 m rộng 5,82 m dài 15,04 m. Hai vòm cuốn phụ ở hai bên đều cao 5,35 m rộng 5,45 m.

Ngoài cửa chính ở hướng đông nam, 3 cửa còn lại đều được xây dựng theo cùng hình dáng kiến trúc với các vòm cuốn bằng đá. Dĩ nhiên là quy mô vòm cuốn thấp và nhỏ hơn ở cửa chính.

Ngoài mặt thành được ghép bằng nhiều lớp đá. Có hai lớp đá được chôn sâu xuống đất để làm móng. Trên mặt đất có 5 lớp đá với những khối đá xếp tầng lên nhau. Lớp thứ nhất cao 1,1m; lớp thứ 2 cao 0,9 – 1 m, lớp thứ 3 cao từ 0,7 – 0,8 m, lớp thứ 4 cao 0,5 – 0,6 m; lớp thứ 5 cao từ 0,35 – 0,4 m. Trên lớp đá, người ta lại cơi cao tường thành lên bằng những viên gạch nung cỡ lớn (gọi là gạch vồ). Mỗi viên gạch rộng 25 cm, dài 30 đến 35 cm và cao khoảng 9 cm. Lớp gạch này xây thành hình răng lược tạo ra các lỗ châu mai có tác dụng để làm chỗ cho quân lính phòng thủ bắn tên xuống dưới khi thành bị địch tấn công.
Hé lộ “công nghệ” xây thành
Thành nhà Hồ đã 600 năm tuổi song vẫn rất vững chắc. Qua một vài thông tin về cấu trúc của tòa thành, nhiều người sẽ đặt câu hỏi. Một là việc vận chuyển những khối đá nặng hàng chục tấn để về xây thành được tiến hành thế nào. Hai là làm thế nào để đưa được những viên đá nặng hàng tấn để tạo nên những vòm cuốn đẹp uy nghi như vậy.

Những “công nghệ” xây thành nhà Hồ đã phần nào được hé lộ trong cuốn sách “Thành nhà Hồ và những câu chuyện xây thành đắp lũy” của Phạm Văn Chấy. Tác giả cho biết: “Để lắp ghép được các vòm cuốn, các nghệ nhân phải thiết kế và chế tác ra các phiến đá hình múi cam, hình thang cân, hình tứ giác. Phải dùng phương pháp “mực hệt” nghĩa là dùng giấy hoặc cót cắt thành mẫu các loại phiến đá nói trên đem ghép vào nhau thành hình dáng cổng thành, thấy đạt rồi mới chế tác các phiến đá y hệt theo mẫu. Khi lắp ráp cổng thành, người ta dùng đất, cát, sỏi đắp thành hình dáng cái lòng cổng thành rồi xếp đá lên trên cốt. Khi ghép đá xong rồi mới moi đất, cát ra”.
Một đoạn tường thành với những khối đá xếp lên nhau.
Khi xây dựng, thành nhà Hồ cũng có điều kiện thuận lợi là các mỏ đá ở gần thành. Các núi đá ở đây có cấu tạo rất đặc biệt. Các lớp đá xếp tầng lên nhau như những đống gạch có bàn tay con người xếp đặt vậy. Tuy nhiên việc khai thác đá cũng không đơn giản. Thời điểm ấy, thuốc nổ còn hiếm. Mặt khác, nhiều nhà nghiên cứu ngày nay khẳng định việc khai thác đá xây thành được tiến hành thủ công vì nếu dùng thuốc nổ thì ít nhiều sẽ đều để lại các vết nứt trên mặt đá.

Khai thác các khối đá hàng tấn đã khó nhưng làm thế nào để chuyển các khối đá ấy về trong điều kiện chỉ có các phương tiện vận chuyển thô sơ của thế kỷ 15. Thì ra, để vận chuyển đá, những người chỉ huy đã cho xây dựng quãng đường dài 1 km từ mỏ đá về đến công trường xây dựng. Mặt đường rộng trên 5m lát bằng các phiến đá phẳng dài từ 1m đến 1,5 m dày từ 20 đến 30 cm. Trước khi lát đá, nền đường đã được đầm nện kỹ lưỡng để chống lún. Con đường này, theo tác giả Phạm Văn Chấy thì hiện nay vẫn còn dấu tích ở thôn Tây Giai – xã Vĩnh Tiến – Vĩnh Lộc – Thanh Hóa.

Trên mặt đường được bố trí các con lăn làm bằng gỗ cứng xen với các hòn bi bằng đá. Chiều dài các con lăn từ 1,5m đến 2 m, đặc biệt có những con lăn dài 4 m. Đường kính các con lăn khoảng 20 cm. Hai đầu con lăn được đóng cọc để ghìm giữ đồng thời giữa các con lăn được xếp xen kẽ các hòn bi đá nhằm mục đích khi chuyển đá ở trên thì các con lăn không bị dồn kẹt vào nhau mà chỉ quay tròn tại chỗ.

Với những hòn đá nhỏ thì vận chuyển bằng sức người. Nặng hơn thì dùng trâu bò kéo còn nặng hàng chục tấn thì dùng 1 voi đến 2 voi kéo. Khi vận chuyển, voi hoặc trâu bò đi ra hai bên ria đường. Lại phải chọn những trai tráng khỏe mạnh để đi theo, điều chỉnh cho đá không bị lăn khỏi đường lăn.

Nhờ những cách làm thông minh đó, tòa thành kiên cố bằng đá được được xây dựng. Trải qua 600 năm mưa nắng bão gió nhưng tòa thành vẫn đứng vững chãi. Thậm chí theo tác giả Phạm Văn Chấy, trong những năm Mỹ ném bom miền Bắc, có lần bom rơi gần sát chân thành mà tường thành không bị suy chuyển gì. Với những nét đặc trưng trong kiến trúc xây dựng, tháng 6/2011, thành nhà Hồ nay đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đây là di sản thứ 5 của Việt Nam được tổ chức này công nhận.
(Theo Kienthuc.net)

Bài đăng phổ biến