Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi công. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thi công. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Lưu ý trước khi lập kế hoạch tiến độ thi công công trình

Kế hoạch tiến độ thi công công trình là điều kiện tiên quyết để quyết định sự thành công của một dự án.Một kế hoạch sơ sài, tùy tiện, bố trí nhân sự lộn xộn, không khoa học, không tính toán và có phương án dự phòng trước được những sự cố phát sinh, công tác quản lý yếu kém sẽ làm giảm năng suất lao động và trực tiếp ảnh hưởng đến tiến độ bàn giao dự án/công trình, chưa kể chất lượng công trình/dự án cũng bị ảnh hưởng và chi phí bị đội lên do chậm tiến độ, thất thoát, hư hao,…Bên cạnh đó, sản phẩm xây dựng là những công trình/dự án lớn, thời gian tồn tại lâu dài, nên nếu công tác lập kế hoạch không tốt, quản lý yếu kém, thì khi có sự cố, sai lầm trong công tác xây dựng xảy ra, sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường ngoài việc lãng phí lớn về tiền của, thời gian, công sức để sửa chữa sai lầm đó. Do đó, có thể thấy tầm quan trọng của việc lập kế hoạch tiến độ thi công công trình với sự thành công của dự án/công trình đó.
Lưu ý trước khi lập kế hoạch tiến độ thi công công trình
Để giúp người lập kế hoạch tiến độ thi công công trình có thể giảm thiểu những thiếu xót, sai lầm trong việc lập kế hoạch,trong nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ phân tích một vài yếu tố mà người lập kế hoạch tiến độ thi công công trình cần chú ý:
Kế hoạch phải đảm bảo được tính logic
Kế hoạch tiến độ là kế hoạch thời gian thực hiện các phần công việc được sắp xếp có tổ chức, có trình tự và được kiểm soát để đảm bảo toàn bộ dự án xây dựng được hoàn thành một cách có tổ chức, có hiệu quả. Một dự án/công trình có kế hoạch tiến độ thi công hợp lý sẽ giúp cho công việc được diễn ra trôi chảy, không bị chồng chéo, giảm sự lãng phí, tăng năng suất lao động, chất lượng công trình.
Do đó, kế hoạch thi công đòi hỏi tính logic rất cao hay nói cách khác là phải đảm bảo được sự logic, hợp lý cả về thời gian và cơ cấu tổ chức.Với những dự án/công trình lớn, phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài với nhiều giai đoạn khác nhau thì việc này sẽ vô cùng khó khăn cho người lập kế hoạch nếu không có một logic tốt. Họ sẽ vô tình bỏ qua nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ dự án/công trình gây ra những sai lầm, thiếu xót trong việc lập kế hoạch tiến độ.
Để khắc phục tình trạng này thì bạn có thể tạo ra những mẫu kế hoạch tiến độ và có thể tùy chỉnh cho từng dự án/công trình cụ thể, thực hiện một quá trình thẩm định cẩn thận, và rà soát thống kê lại lịch sử tiến độ thi công cho từng đơn vị công việc cụ thể.
Đưa ra những giả định và câu hỏi để phản biện giả định tình huống có thể xảy ra
Kế hoạch đặt ra là dựa trên những giả định ban đầu về tình hình thực hiện công việc trên cơ sở thông tin và kinh nghiệm trong quá khứ. Do đó, để có một kế hoạch hoàn hảo thì bạn phải luyện tập việc đặt ra các giả định và các câu hỏi phản biện lại những giả định đó. Từ việc trả lời các câu hỏi phản biện cho tình huống giả định, bạn sẽ có được những phương án dự phòng để có sự chuẩn bị tốt nhất cho những tình huống phát sinh sau này khi kế hoạch được đưa vào triển khai thực hiện chính thức.
Mô tả chính xác, chi tiết, rõ ràng nhiệm vụ/thông tin trong kế hoạch
Để đảm bảo người thực hiện kế hoạch triển khai, thực hiện đúng công việc yêu cầu thì đòi hỏi họ phải hiểu và tiếp nhận đúng thông tin mà người lập kế hoạch đặt ra.
Do đó, khi lập kế hoạch thì người lập cần dùng ngôn ngữ dễ hiểu, rõ ràng, cụ thể, chi tiết để cá nhân/bộ phận triển khai thực hiện đúng công việc được yêu cầu.
Ví dụ như kế hoạch từ 01/01/2014-03/05/2014: hoàn thành nền móng công trình A
Như vậy thì sẽ rất chung chung, kế hoạch cần chi tiết hơn: hoàn thành như thế nào? Đến đâu? …Đội triển khai trực tiếp thực hiện công việc này chỉ cần đào móng hay phải đóng cọc và đổ xong cả bê tông cho nền móng? Do đó kế hoạch cần chi tiết và cụ thể sẽ giúp tăng hiệu quả của một kế hoạch thi công.
Xác định mối quan hệ giữa các cá nhân, bộ phận liên quan trong quá trình thi công
Để thực hiện một dự án, công trình thi công là cả một quá trình gồm nhiều giai đoạn và đòi hỏi sự tham gia của rất nhiều con người, phòng ban, tổ chức. Do đó, người lập kế hoạch cần có sự sắp xếp để những cá nhân/bộ phận/đơn vị tiếp nhận từng giai đoạn của kế hoạch liên quan với nhau có sự kết nối, chuyển tiếp công việc.
Làm tốt được việc này sẽ giúp cho công việc được diễn ra trôi chảy, không bị bỏ ngỏ, gián đoạn mỗi khi kết thúc một giai đoạn, giúp dự án/công trình được diễn ra liên tục và đảm bảo hoàn thành đúng tiến độ như kế hoạch.
Xem xét dự toán chi phí ban đầu
Sẽ là thiếu sót khi lập kế hoạch tiến độ mà bỏ qua dự toán chi phí ban đầu cho việc thi công dự án/công trình đó. Trên cơ sở thông tin dự toán cho từng giai đoạn thi công dự án/công trình mà người lập kế hoạch lựa chọn, phân bổ nguồn lực cho hợp lý. Tuy nhiên, cũng không tránh khỏi việc dự toán ban đầu bị sai. Khi đó thì người lập kế hoạch tiến độ vẫn phải lập kế hoạch đảm bảo thực hiện công việc chính xác và yêu cầu bổ sung/sửa đổi dự toán hoặc thêm vào dự toán phát sinh.
Theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch
Cuối cùng, để đảm bảo kế hoạch tiến độ được triển khai đúng như thiết kế ban đầu thì hoạt động kiểm tra, theo dõi phải được thực hiện liên tục, thường xuyên. Từ kết quả của việc giám sát liên tục mà bạn biết được tiến độ thực hiện dự án thực tế so với kế hoạch như thế nào? Nhanh hơn hay chậm hơn để có phương án điều chỉnh hợp lý đảm bảo dự án/công trình được hoàn thành đúng tiến độ với chất lượng như thiết kế ban đầu trong định mức chi phí đảm bảo dự án/công trình mang lại hiệu quả kinh tế cho các bên liên quan và người sử dụng.

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

Một số phương pháp xử lý độ ẩm của đất

Độ ẩm của đất là: Lượng nước chứa trong đất, được tính bằng phần trăm so với khối lượng đất khô. Độ ẩm của đất phải được xác định ở trạng thái tự nhiên.

1   Phương pháp hạ thấp độ ẩm của đất

1.1   Dọn sạch cây cỏ phía trên, tiêu hết nước đọng, dọn sạch tầng phủ, đào các rãnh ngăn nước chảy từ ngoài vào mỏ và rút nước ngầm trong mỏ. Công việc này có thể làm sớm trước khi khai thác 2 tháng hoặc 3 tháng
1.2   Khai thác đất theo từng lớp trên mặt bằng, nếu có điều kiện thì cày xới trước khi lấy đất để cho nước bốc hơi đi một phần
1.3   Rải đất lên mặt đập với độ dày khoảng 30 cm, phơi nắng từ 1h đến 2 h giờ, dùng máy cày nhiều lưỡi để cày lật lớp đất lên. Sau đó tiếp tục phơi như trên. Tuỳ lượng nước trong đất mà cày xới nhiều hay ít lần cho đến khi đạt được độ ẩm thiết kế mới tiến hành đầm.

2   Phương pháp tăng thêm độ ẩm của đất

2.1    Đối với những loại đất có độ ẩm thấp hơn độ ẩm thiết kế khoảng từ 3 % đến 4 % thì nên dùng phương pháp đào theo từng lớp trên mặt đứng. Trước khi khai thác có thể tưới một lượng nước lên mỏ đất để cho thấm đất rồi mới khai thác
2.2    Đối với những loại đất có tính dính nhớt lớn, thấm hút nước chậm, có độ ẩm tự nhiên nhỏ hơn độ ẩm thiết kế khoảng từ 6 % đến 8 % (có khi đến 10 %) như một số đất ở duyên hải miền Trung thì phải dùng nhiều biện pháp phối hợp. Các biện pháp có thể áp dụng là:
1)  Cày xới đất ở bãi, tưới nước lên toàn bộ mặt bằng, dùng máy ủi dồn đất ướt thành đống và ủ đất trong thời gian từ 2 ngày đến 3 ngày mới vận chuyển lên mặt đập để đắp;
2)  Trong trường hợp không thể ủ đất trong 2 ngày đến 3 ngày, có thể tiến hành cày xới đất một lớp có độ sâu khoảng 30 cm, tưới nước lên toàn bộ lớp đất này, để cho đất thấm trong từ 1 h đến 2 h, tiến hành cày xới để trở đất, rồi lại tưới nước để cho đất thấm đều trong từ 1 h đến 2 h. Nếu đất vẫn chưa thấm đều thì tiến hành cày xới nữa cho tới khi nước thấm đều mới được đưa lên mặt đập để đắp;
3)  Phun nước trong quá trình máy đào đang xúc đất lên xe vận chuyển. Để tưới nước cho đều, nên thiết kế hệ thống đường ống có gắn vòi phun. Nếu dùng xe tưới nước cũng nên lắp vòi phun.

Thứ Tư, 27 tháng 8, 2014

Những tính chất kỹ thuật của đất và sự ảnh hưởng của nó đến kỹ thuật thi công đất

Khái niệm: Đất là vật thể rất phức tạp về nhiều phương diện, có rất nhiều tính chất (cơ, lý, hóa...) đã được nói đến trong Cơ học đất. Trong giới hạn chương trình ta chỉ đề cập đến một số tính chất của đất ảnh hưởng nhiều đến kỹ thuật thi công đất. Những tính chất này gọi là tính chất kỹ thuật của đất như : Trong lượng riêng, Độ ẩm, Độ dốc tự nhiên,

Độ tơi xốp, Lưu tốc cho phép...

1. Trọng lượng riêng của đất

Định nghĩa

Trọng lượng riêng (TLR) là trọng lượng của một đơn vị thể tích đất, ký hiệu là ă

Công thức xác định
nhung-tinh-chat-ky-thuat-cua-dat-va-su-anh-huong-cua-no-den-ky-thuat-thi-cong-dat-1




G: là trọng lượng của mẫu đất thí nghiệm (T, kg...).

V: thể tích của mẫu đất thí nghiệm (m3, cm3...).

Tính chất

Trọng lượng riêng của đất thể hiện sự đặc chắc của đất. Đất có TLR càng lớn thì càng khó thi công, công lao động chi phí để thi công càng cao.

Độ ẩm của đất

Định nghĩa

Độ ẩm của đất là tỷ lệ phần trăm (%) của trọng lượng nước chứa trong đất trên trọng lượng hạt của đất, ký hiệu là W.

Công thức xác định

nhung-tinh-chat-ky-thuat-cua-dat-va-su-anh-huong-cua-no-den-ky-thuat-thi-cong-dat-2


Gnước: là trọng lượng nước chứa trong mẫu đất thí nghiệm.

GW: là trọng lượng tự nhiên của mẫu đất thí nghiệm.

Gkhô: là trọng lượng khô của mẫu đất thí nghiệm.

Tính chất

+ Độ ẩm ảnh hưởng đến công lao động làm đất rất lớn. Đất ướt quá hay khô quá đều làm cho thi công khó khăn .

Ví dụ: Trong thi công đào đất, nếu đất khô cứng quá thì để đào được đất cần tác dụng một lực đào phải lớn hơn, nếu đào bằng máy thì hao phí về nhiên liệu, thời gian tăng lên, còn nếu đào bằng thủ công thì năng suất đào giảm. Trường hợp đất quá ướt, dưới tác dụng của các tác nhân như lực đào đất, người đi lại ... làm cho đất rời ra, sự bám dính giữa các hạt không còn nữa, nhiều loại đất tạo thành bùn, gây khó khăn rất nhiều trong việc đào cũng như vận chuyển đất, vệ sinh đáy hố móng...

+ Độ ẩm của đất ảnh hưởng rất lớn đến công tác thi công đất. Đối với mỗi loại

đất, có một độ ẩm thích hợp cho thi công đất.

+ Căn cứ vào độ ẩm người ta chia đất ra ba loại:

Đất khô có độ ẩm W <5%.

Đất ẩm có độ ẩm 5% ≤ W≥ 30%.

Đất ướt có độ ẩm W >30%.

+ Theo kinh nghiệm có thể xác định gần đúng trạng thái ẩm của đất bằng cách bốc đất lên tay nắm chặt lại rồi buông ra, nếu:

Đất rời ra là đất khô.

Đất giữ được hình dạng nhưng tay không ướt là đất ẩm (dẻo).

Đất dính bết vào tay hay làm tay ướt là đất ướt.

Các loại công trình và công tác đất

Các loại công trình bằng đất phân loại theo

Theo mục đích sử dụng, 

Công trình bằng đất được chia thành 2 loại: công trình bằng đất công tác đất phục vụ các công tác khác.
+ Công trình bằng đất: Đê, đập, kênh mương, nền đường...(thường có khối lượng lớn).
+ Công tác đất phục vụ các công tác khác: Hố móng, rãnh đặt đường ống...

Theo thời gian sử dụng, 

Công trình bằng đất được chia thành 2 loại: công trình sử dụng lâu dài và công trình sử dụng ngắn hạn.
+ Công trình sử dụng lâu dài: nền đường bộ, nền đường sắt, đê, đập, kênh, mương...
+ Công trình sử dụng ngắn hạn: hố móng, rãnh đặt đường ống...

Theo hình dạng công trình

Công trình bằng đất được chia thành 2 loại: công trình đất chạy dài và công trình đất tập trung.

+ Loại công trình đất chạy dài: Các công trình chạy dài như nền đường, đê, đập, kênh, mương...

+ Loại công trình đất tập trung: Các công trình đất dạng tập trung như hố móng trụ, hố móng bè, san mặt bằng...

Các loại công tác đất

Trong thi công đất có các loại công tác đất như sau:

Đào

+ Đào là hạ cao trình mặt đất tự nhiên xuống đến cao trình thiết kế.

+ Để thi công đào đất ta có thể dùng biện pháp đào đất bằng thủ công, đào bằng máy hay kết hợp cả hai...

+ Thể tích đất đào thường được qui ước dấu dương (V+)



Đắp

+ Đắp là nâng cao trình mặt đất tự nhiên đến cao trình thiết kế. Ví dụ đắp đất bờ đê, đắp nền đường...

+ Tương tự như đào, đắp ta cũng có thể áp dụng biện pháp đắp bằng thủ công hay đắp bằng cơ giới. Có thể dùng máy đào để đào đất và đổ trực tiếp vào nơi cần đắp, hay dùng các ôtô vận chuyển đất đến đổ vào nơi cần đắp, cũng có thể dùng máy ủi để vận chuyển đất để đắp.

+ Công tác đắp đất cần phải được thực hiện xen kẽ với công tác đầm đất.

+ Thể tích đất đắp thường được qui ước mang dấu âm (V-)

San

+ San là làm phẳng một diện tích mặt đất, bao gồm cả đào đất và đắp đất. Ví dụ san mặt bằng của một sân vân động hay một khu vui chơi, thể thao...

+ Dựa vào tổng khối lượng đất đào và đất đắp cần cho quá trình san ta có các dạng san mặt bằng như sau:

San mặt bằng theo điều kiện cân bằng đào đắp. Trường hợp này tổng khối lượng đất đào bằng tổng khối lượng đất đắp ÓV+ = ÓV-.

San mặt bằng theo cao trình sau khi san (Ho) cho trước. Trường hợp này có thể phải lấy bớt đất đi nơi khác (ÓV+ > ÓV-) hay phải đổ thêm đất vào (ÓV+ < ÓV-).

San mặt bằng sau khi đổ thêm vào công trình hoặc lấy bớt từ công trình một khối lượng đất cho trước.

Bóc

+ Bóc là lấy một lớp đất (không sử dụng ) trên mặt đất tự nhiên như lớp đất mùn, đất ô nhiễm... đi nơi khác. Bóc là đào đất nhưng không theo một độ cao nhất định mà phụ thuộc vào độ dày của lớp đất lấy đi.

Lấp

+ Lấp là làm cho chổ đất trũng cao bằng khu vực xung quanh. Lấp là đắp nhưng độ dày lớp đất đắp phụ thuộc vào cao trình của mặt đất tự nhiên của khu vực xung quanh.

Đầm

+ Đầm là truyền xuống đất những tải trọng có chu kỳ nhằm ép đẩy không khí, nước trong đất ra ngoài, làm tăng độ chặt, tăng mật độ hạt trong 1 đơn vị thể tích, tạo ra một kết cấu mới cho đất .

Bài đăng phổ biến