Hiển thị các bài đăng có nhãn GioiThieuCongTrinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GioiThieuCongTrinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 1, 2016

Big Dam Bridge

Opened in 2006, the pedestrian and bicycle bridge built over Murray Lock and Dam between Murray Park in Little Rock and Cook’s Landing Park in North Little Rock is a major addition to the Arkansas River Trail, connecting several miles of hiking and biking trails on both sides of the river.   The 15.7 mile Big Dam Loop of the 88-mile Arkansas River Trail System, crosses the river at the Big Dam Bridge on the west with an eastern crossing over a renovated Rock Island Railroad bridge downtown at the Clinton Library.   An extension route to Pinnacle Mountain State Park will connect to the 225 mile Ouachita Wilderness Trail.


The official dedication for the bridge was September 30, 2006.
The project’s official name  is Pulaski County Pedestrian & Bicycle Bridge – Murray Lock and Dam—however, it is known as the Big Dam Bridge and is the world’s longest bridge specifically constructed as a pedestrian/bicycle bridge. At 4,226 feet (1288 m.) in length, the bridge rises to 65 feet over the surface of the Arkansas River and 30 feet over the dam.  The span over the river is 3463 feet (1055 m.), with the ramps on either side of the river accounting for the rest of the length.

It is lit at night with 169  “Illumivision Lightwave LX” fixtures installed at the base of the 13 piers over the dam.  Each light is a “wall washing LED that generates color-changing effects.”

Other dam bridge facts:
  • The bridge has 679 feet of walled embankments.
  • There are eight observation areas with benches.
  • It’s designed to support two 36″ utility pipelines.
  • The structure contains over 3 million pounds of steel.
  • The bridge and associated trails assists in the connection of over 7,000 acres of city, county, state, and federal park land.
  • Oversight of design and construction was provided by the U.S. Army Corps of Engineers to ensure the project would not interfere with navigation, though no corps funds were used in the construction.
  • Funding was through a combination of federal and state transportation funds as well as local funding from Pulaski County and the cities of Little Rock and North Little Rock.
  • It was constructed with “weathering steel girders” to minimize requirements for future maintenance.
  • The bridge is gently sloped to comply with Uniform Federal Accessibility Standards.
  • Using Murray Lock and Dam as foundation saved an estimated $10 million in construction costs

Murray Lock and Dam and the McClellan-Kerr Arkansas River Navigation System (MKARNS) facts:
  • Essentially a series of navigation pools connected by locks, the waterway enables vessels to overcome a 420-foot difference in elevation from the Mississippi River to the head of navigation at Catoosa, Oklahoma.
  • There are 18 locks; 5 in Oklahoma and 13 in Arkansas. All lock chambers are 110-feet wide by 600 feet long.
  • Size of towage accommodated: more than 8 jumbo (35 ft. X 195 ft.) barges with double lockage using tow haulage (Tow haulage equipment on a lock can pull the first cut through by itself, so that the towboat can stay in its original pushing position and lock through with the second cut.)
  • A typical 8-barge 12,000-ton is equivalent to 400 semi-trucks or 120 railroad freight cars.
  • The maximum lift from one navigation pool to another ranges from only 14 feet at lock No. 4 near Pine Bluff to as much as 54 feet at the Dardanelle Lock.
  • The locks are operated 24 hours per day and handle both commercial barges and recreational vessels.
  • Bridges over the channel have a minimum vertical clearance of 52 feet 98% of the time. Actual vertical clearance above the normal level of the navigation pool is normally more than 52 feet.
  • Murray Lock and Dam is #7 going upstream, 125.4 miles from the Mississippi.  Under normal pool conditions, the lower pool level is 231 ft above sea level and the upper pool is 249 ft., for a nominal change in elevation of 18 feet.


www.thuyloivn.com st


Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Thang máy đường thủy độc đáo nhất thế giới

Đi vào hoạt động từ năm 2002, cây cầu Falkirk Wheel trị giá 84,5 triệu bảng là điểm hút khách du lịch hàng đầu Scotland.

Nguồn vốn 32 triệu bảng đến từ Quỹ Xổ số quốc gia của Scotland, số còn lại có sự hỗ trợ từ 7 chính quyền địa phương, mạng doanh nghiệp người Scotland, Quỹ Phát triển khu vực châu Âu và Ủy ban Thiên niên kỷ.

Thiết kế độc đáo của cây cầu Falkirk Wheel nhanh chóng được lựa chọn trong dự án Thiên niên kỷ của Vương quốc Anh tạo ra một bước ngoặt đáng nhớ, thay đổi suy nghĩ về cấu trúc của những cây cầu thế kỷ 21.

Cây cầu ra đời với mục đích ban đầu là liên kết kênh đào Forth & Clyde và kênh Union nhưng xem ra khi hoàn thành, mục đích giải trí của cây cầu có vẻ chiếm ưu thế hơn.

Kể từ năm 2007, hình ảnh cây cầu Falkirk Wheel được in trên tờ 50 bảng do Ngân hàng Scotland phát hành.

Cây cầu 35 mét bao gồm hai cánh tay đối xứng mở rộng 15 mét vượt ra ngoài trục trung tâm và hai đầu có hình dạng lấy cảm hứng từ chiếc rìu Celtic.

Cây cầu hoạt động như một thang máy bằng thuyền kết nối hai kênh đào. Nhưng ý tưởng của các nhà thiết kế còn vượt xa hơn thế, họ đã tạo nên một cấu trúc thực sự ngoạn mục. Kết quả là cây cầu Falkirk Wheel được xây dựng một cách hoàn hảo, và trở thành cây cầu xoay đầu tiên và duy nhất trên thế giới.


Hiện có hẳn một tour tham quan cây cầu độc đáo này trong vòng 1 tiếng. Năm 2010, giá vé cho 1 tour tham quan cây cầu có giá 7,95 bảng cho người lớn và 4,95 bảng cho trẻ em từ 3 – 15 tuổi (miễn phí cho trẻ em dưới 3 tuổi).
nguồn: http://thethaovanhoa.vn/

Thứ Tư, 8 tháng 4, 2015

Taum Sauk - Nhà máy thủy điện "độc nhất" thế giới

Libero.vn Điểm đặc biệt của Taum Sauk so với các nhà máy thủy điện khác, là nhà máy nằm cách xa nguồn nước gần nhất tới hơn 80km.

Thông thường các nhà máy thủy điện được đặt gần nguồn nước hoặc nằm trên các nguồn nước đó, chẳng hạn như các đập trên sông. Tuy nhiên, nhà máy thủy điện Taum Sauk lại nằm cách xa nguồn nước gần nhất - dòng sông Mississippi tới hơn 80 km.
Được xây dựng trên đỉnh của núi St Francois, thuộc vùng Ozarks Missouri, cách St Louis, Lesterville, Missouri (Mỹ) khoảng 140 km về phía Nam, nhà máy thủy điện Taum Sauk có một hồ chứa nước trên cao, được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu điện đỉnh điểm trong ngày.
 
Trong thời điểm nhu cầu điện cao, nước lưu trữ trong hồ chứa hình quả thận trên đỉnh núi Proffit được mở bằng tua-bin, chảy vào một hồ chứa thấp hơn nằm cách đó 2km, trên vùng East Fork, sông Black. Vào ban đêm, khi nhu cầu điện thấp, điện dư thừa có sẵn trên mạng lưới điện được sử dụng để bơm nước trở lại đỉnh núi. Về bản chất, nhà máy điện còn có chức năng như một chiếc pin lớn, lưu trữ nguồn năng lượng dư thừa để sử dụng khi cần thiết.
 
Nhà máy Taum Sauk bắt đầu được xây dựng vào năm 1960 và hoạt động vào năm 1963. Taum Sauk có hai tuabin thủy điện, trong đó mỗi chiếc có khả năng tạo ra 175 MW điện. Năm 1999, chúng được nâng cấp lên mỗi chiếc có khả năng tạo 225 MW điện. Năm 2005, nhà máy bị đóng cửa sau khi hồ chứa nước bị vỡ do mức nước đột ngột tháo ra lên 4 triệu khối mét nước trong vòng 12 phút.
 

Nhà máy trở lại phục vụ sau 4 năm ngừng hoạt động. Hồ chứa trên xây dựng lại, hiện được coi là một cột mốc kỹ thuật - đập bê tông đầm lăn lớn nhất ở Bắc Mỹ. Để ngăn chặn thảm họa khác, 5 hệ thống dự trữ được xây dựng và 9 máy camera đặt xung quanh hồ chứa để giám sát tình hình 24/24 giờ.




Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Đập thủy điện Itaipu hùng vĩ

Ngày này cách đây 32 năm, Itaipu- đập thủy điện lớn nhất thế giới lúc bấy giờ và là biểu tượng cho sự hợp tác của 2 nước láng giềng Brazil và Paraguay, được khánh thành. Itaipu được Hiệp hội kỹ sư cầu đường châu Mỹ công nhận là một trong 7 kỳ quan thế giới hiện đại, thu hút đông đảo du khách nước ngoài đến tham quan.

Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất ethanol, thủy điện là một hướng phát triển năng lượng thay thế quan trọng mà Chính phủ Brazil rất quan tâm. Với nhiều dòng sông lớn, nhất là sông Amazon rộng lớn bậc nhất thế giới gồm nhiều lưu vực bao phủ 60% diện tích đất nước, Brazil là nước có điều kiện tự nhiện thuận lợi để phát triển thủy điện. Những năm 70 của thế kỷ XX, quốc gia Nam Mỹ này đã chọn thủy điện làm khâu đột phá cho cuộc cách mạng năng lượng.

Năm 1973, Brazil và Paraguay ký hiệp định hợp tác xây dựng công trình thuỷ điện lớn nhất thế giới Itaipu trên sông Paraná, biên giới tự nhiên giữa hai nước. Mặc dù khi đó có nhiều ý kiến cho rằng dự án thủy điện Itaipu không khả thi và phi thực tế, nhưng hai nước vẫn quyết tâm xây dựng công trình này.

Đập thủy điện Itaipu theo tiếng thổ dân da đỏ có nghĩa là “hòn đá biết hát”, được khởi công xây dựng năm 1975.
Itaipu được coi là một trong những công trình xây dựng khổng lồ nhất trên thế giới với tổng vốn đầu tư lên tới 20 tỷ USD. Trong suốt quá trình xây dựng, để làm thay đổi hướng chảy của dòng sông lớn thứ 7 thế giới này, những người công nhân đã phải đào một nhánh phụ dài 1,3 dặm, với khối lượng đất đá lên tới 50 triệu tấn.

Khối lượng vật liệu để xây dựng công trình này có thể nói là khổng lồ.  Lượng sắt, thép được dùng để tạo kết cấu cho con đập này đủ cho xây dựng 380 tháp Eiffel ở thủ đô Paris và lượng bê tông sử dụng cho Itaipu gấp 15 lần lượng dùng để xây dựng đường hầm qua biển Manche nối giữa Pháp và Anh và đủ để xây 210 sân vận động Maracana ở Rio de Janeiro. Thời điểm thi công cao độ, công trường đã phải huy động tới 30 nghìn công nhân. 

Ðập Itaipu cao 196 m và dài 7,76 km tạo nên hồ thủy điện dài 170 km với sức chứa 29 tỷ mét khối nước.

Tổ máy đầu tiên của nhà máy thủy điện Itaipu phát điện năm 1984 thế nhưng phải 23 năm, vào tháng 5 năm 2007, hai tổ máy cuối cùng mới được đưa vào vận hành. Với tổng cộng 20 tổ máy, công suất của Itaipu đạt 14.000 MW.

Theo thỏa thuận liên doanh, mỗi nước được hưởng 50% sản lượng điện phát ra. Tuy nhiên, Paragoay chỉ có nhu cầu sử dụng khoảng 7% sản lượng của nhà máy nên bán phần dôi thừa cho Brazil. Itaipu đáp ứng khoảng 20% nhu cầu điện của quốc gia lớn nhất Mỹ Latinh này. Với 98,3 triệu MWh trong năm 2013, nhà máy Itaipu là cơ sở thủy điện có sản lượng lớn nhất thế giới.
Ngoài việc cung cấp lượng điện lớn cho Brazil và Paraguay, Itaipu còn được đánh giá là một kỳ quan kiến trúc hiện đại của thế giới và trở thành điểm du lịch hấp dẫn trong quần thể du lịch thác nước Iguazu, nơi hằng năm  thu hút hàng triệu du khách nước ngoài đến tham quan.

Có thể nói, với việc phát triển thủy điện, các nước có thêm nguồn năng lượng song song với nhiệt điện, giúp không quá lệ thuộc nguồn nhiệt điện do nguồn cung dầu mỏ nhiều khi biến động thất thường và giá có xu hướng tăng cao. Theo một thống kê của Hiệp hội thủy điện quốc tế, thủy điện cung cấp điện cho gần 20% dân số thế giới.

Tuy nhiên, người ta lo ngại rằng, việc phát triển thủy điện sẽ gây ảnh hưởng lớn tới thổ nhưỡng, địa chất, nguồn nước, khí hậu… và nếu con sông được sử dụng làm thủy điện chảy qua nhiều vùng đất khác nhau thì mức độ ảnh hưởng sẽ gia tăng nghiêm trọng tại các vùng đất rộng lớn, thậm chí ảnh hưởng tới nhiều quốc gia.

Chính vì vậy, bên cạnh các nguồn năng lượng khác chi phí cao và ngày càng khan hiếm, các nước vẫn tiếp tục xây dựng và phát triển ngành thủy điện theo hướng không gây nguy hại tới môi trường. Các nhà nghiên cứu phát triển thủy điện đã kêu gọi các chính phủ đổi hướng sang xây dựng các nhà máy thủy điện loại vừa và nhỏ, chỉ cung cấp điện cho một vùng hoặc khu vực nhỏ, vừa không gây hao tốn tài nguyên, nhân lực vừa bảo đảm gìn giữ môi trường sống tốt lành.

Nguồn tin: Trung tâm Thông tin Tư liệu/TTXVN

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Công trình dẫn nước vượt qua sông Hoàng (Trung Quốc)

vncold- Hệ thống công trình chuyển nước từ lưu vực sông Dương Tử (Yangtse River) lên vùng phía Bắc sông Hoàng (Huanghe -  Yellow River) là nơi ngày càng thiếu nước đang được triển khai khẩn trương. Đây là hệ thống công trình thủy lợi rất lớn, được mệnh danh là “Vạn lý trường thành” trong lĩnh vực nước.  Có 3 tuyến chuyển nước : tuyến phía Tây, tuyến giữa và tuyến phía Đông. Mỗi tuyến có chiều dài khoảng 1500km, gồm những đoạn kênh đào hoặc đắp nổi trên mặt đất, những tunen xuyên qua núi và những tunen xuyên qua phía dưới đáy sông.

Công trình dẫn nước vượt qua sông Hoàng
Tuyến phía Đông dài 1426km, xuất phát từ tỉnh Hubei (Hồ Bắc), qua tỉnh Henan (Hà Nam) lên tỉnh Shantong (Sơn Đồn). Một công trình lớn, quan trọng và phức tạp về kỹ thuật là tunen dẫn nước vượt sông Hoàng tại tỉnh Henam. Dưới đáy lòng sông Hoàng là các lớp đất yếu. Công trình gồm 2 tunen tụ tròn song song, khoảng cách tính từ tâm là 28m, đường kính mỗi tunen là 7m, thành vạch bê tông cốt thép dày 45cm. Lưu lượng qua tunen 265m3/s. Thời gian thi công 56 tháng, hoàn thành cào 2/2014. Sử dụng công nghệ và thiết bị CHLB Đức. Đào giếng cửa ra, chuyển máy đào xuyên xuống sâu ở cửa ra bờ Bắc rồi đào ngầm tunen từ đó về cửa vào tunen bờ Nam. Dưới đây là một số hình ảnh mô hình 3D và công việc trên hiện trường. 
Thiết bị CHLB Đức
Thi công tunen
Cửa vào tunen
S.H.A. St

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

"Thành phố" cống ngầm lớn nhất thế giới dưới lòng Tokyo

Trước đây thuyloivn.com đã có bài giới thiệu về hệ thống đường chống ngập của TOKYO. Hôm nay xin đưa thêm một số hình ảnh và thông tin về công trình đặc biệt này.
kenh14.vn- Choáng ngợp trước sự "khổng lồ" của công trình kiến trúc đặc biệt tại Nhật Bản...
Tokyo là một trong những thành phố sầm uất nhất nhì thế giới. Nhưng ít ai biết rằng, thành phố nổi tiếng này nằm trên hệ thống công trình kiến trúc ngầm dưới mặt đất. Với tầm nhìn xa và kĩ thuật tuyệt vời, người Nhật đã xây dựng hệ thống cống dẫn nước khổng lồ nằm bên dưới mặt đất ngay gần thủ đô.
Nằm sâu dưới thành phố Saitama, ngoại ô Tokyo là một hệ thống cống thoát nước khổng lồ. Công trình kiến trúc này được xây dựng để bảo vệ 13 triệu cư dân của thành phố khỏi mưa lớn và cơn bão nhiệt đới ngày càng khắc nghiệt thường tấn công Nhật Bản.
Tên đầy đủ của công trình này là “Kênh xả ngầm ngoài khu vực đô thị” (Metropolitan Area Outer Underground Discharge Channel) nhưng vẫn thường được gọi là G-Cans.
Tổ hợp những đường hầm khổng lồ này được xây dựng từ 1992 đến 2006, tiêu tốn một khoản tiền gần 3 tỷ USD (khoảng 62.400 tỷ VND). Công trình gồm 5 hầm chứa bằng bê-tông với chiều cao 65m và đường kính 32m, nối với nhau bằng các đường hầm dài 6,4km.
Bên cạnh đó là một bể nước lớn cao 25,4m, dài 177m và rộng 78m mang tên gọi riêng “The Temple”(Ngôi Đền). Nâng đỡ bể nước tối quan trọng này là 59 cột trụ lớn kết nối với 10 máy bơm công suất cao có thể bơm tới 200 tấn nước vào sông Edogawa mỗi giây.
Bản thân công trình kiến trúc này là một tác phẩm kỳ công của kỹ thuật hiện đại. Ý tưởng đằng sau dự án này thực sự khá đơn giản, đó là chuyển hướng tất cả lượng nước mưa từ bão biển, bão nhiệt đới và lũ lụt từ các thành phố, thị trấn xung quanh, đặc biệt là Tokyo ra sông Edogawa.
Điều này nhằm mục đích giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại mà lũ lụt có thể đem lại như phá hủy nhà cửa và các công trình xây dựng quan trọng.
Bể nước khổng lồ “Ngôi đền dưới mặt đất” chính là điểm nhấn ấn tượng nhất của cả khu vực này. Với kích thước khổng lồ và độc đáo của mình, công trình kiến trúc đồ sộ này đã được đưa vào làm bối cảnh của nhiều bộ phim truyền hình khác nhau.
Nước lũ từ các đường ống dẫn nước của thành phố sẽ chảy qua đường hầm và vào bên trong hầm chứa nước. Khi hầm đầy, nước sẽ di chuyển qua các đường hầm dài để cuối cùng chảy vào “ngôi đền dưới lòng đất” đồ sộ này.
Từ đây, 4 tuabin chạy bằng động cơ phản lực sẽ thực hiện nhiệm vụ và bơm nước với công suất 53.000 lít nước mỗi giây ra bên ngoài sông Edogawa.
Những lợi ích mà hệ thống thoát nước khổng lồ này mang lại là một vấn đề tranh luận của nhiều người. Đã có nhiều thắc mắc về tính hợp pháp của hệ thống thoát nước cũng như sự nghi ngờ về việc liệu nó có thể thực sự hoạt động tốt như kế hoạch đã đề ra.
Một vấn đề khác cũng được đặt ra là tính khả dụng của nó ngay tại thời điểm này khi mục đích duy nhất mà khu công trình kiến trúc khổng lồ này được xây dựng chỉ là dành cho những “siêu thiên tai”.
Điều này để lại trong nhiều người thắc mắc về việc liệu toàn bộ dự án này là khôn ngoan và đi trước thời đại hay chỉ là một "miếng mồi ngon" cho các công ty xây dựng.
Theo hội đồng của trung tâm quản lý thiên tai Tokyo, nếu lượng mưa tổng cộng vào khoảng 550mm trong ba ngày liên tục rơi xuống Tokyo, gây tràn sông Arakawa thì sẽ có đến 97 trạm tàu điện ngầm bị ngập hoàn toàn trong nước.
Đó chính là trường hợp mà G-cans được xây dựng để giải quyết. Tuy nhiên viễn cảnh nói trên chỉ là một sự kiện 200 năm mới có một lần và thực sự rất hiếm gặp. Do vậy mà hiện tại, G-cans vẫn chỉ tồn tại như một công trình kiến trúc khổng lồ bỏ không dưới lòng đất.
Dù có thực sự là một “vũ khí ngầm” hay không, dự án G-cans vẫn là một công trình đáng kinh ngạc với vẻ đẹp kỳ lạ và độc đáo. Chính vì thế, nó đã trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn.
Khi không thực hiện chức năng thoát nước của mình, những đường hầm này trở thành nơi tiếp đón khách du lịch 4 ngày/tuần. Đứng ở 50m dưới lòng đất với âm thanh của những máy nén khí và nước nhỏ giọt ở xa vọng lại thực sự sẽ là một trải nghiệm thú vị.
Cùng xem video giới thiệu về hệ thống cống ngầm G-cans lớn nhất thế giới:

Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014

Star - Shaped Spillway Armenia

Spillways in the UK known as overflow channels. It has now become Armenia’s one of the best attraction. These channels are actually structures that provide controlled release of flows from a dam into an area downstream.



Unfortunately this glory hole for the Kachut Dam has inadequate capacity. The space available for a new spillway, between the dam and a water supply tunnel, is too limited to provide the capacity needed for a normal ungated spillway. The Armenian State Committee of Water Systems is looking to address this problem with the use of fuse gates. This construction is part of the country’s Dam Safety Project, a World Bank financed, nation-wide program for improving the safety of existing dams.
 

They release floods so that water does not over top and damage the dam; water does not usually flow over a spillway unless there is a flood. Typically spillways are round; this star-shaped one is found at the Kechut Reservoir near Jermuk in Armenia.
ST: Đoàn Ngọc Tứ
A spillway is a structure used to provide the controlled release of flows from a dam or levee into a downstream area, typically being the river that was dammed. In the UK they may be known as overflow channels. Spillways release floods so that the water does not overtop and damage or even destroy the dam. Except during flood periods, water does not normally flow over a spillway.

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014

Fishways

Fish undertake migrations for a number of reasons including to spawn, feed and seek refuge. These migrations are also essential to ensure the dispersal of species and maintain genetic fitness within fish communities. Fishways, also known as fish ladders or fish passes, are structures placed on or around constructed barriers (such as dams or weirs) to give fish the opportunity to migrate.


The first written reports of fishways date to 17th century France, where bundles of branches were used to create steps in steep channels, allowing fish to bypass obstructions. Today, most fishways follow a similar basic concept, allowing fish to pass around the barrier by swimming through a series of gaps or slots that control the velocity (speed) of water.

Each weir or dam on a river that is targeted for fishway construction represents a unique situation. There are many aspects that need to be considered within the design of a fishway, The species diversity and size of the migrating fish community varies from site to site. Fishways are designed to cater for the physical characteristics and swimming abilities of the prevailing fish community. Typically, the smaller species of fish are weaker swimmers and are unable to negotiate the faster flows in a fishway that larger fish can. The hydraulic conditions within a fishway need to provide both enough depth for large fish whilst ensuring the velocity is suitable for smaller fish.

Types of fishways
Seven types of fishways have been used or considered in NSW including
Pool-type
Denil
Lock
Trap and Transport
Rock Ramp
Bypass
Eel.

Pool-type fishway (includes vertical slot fishway)
Pool-type fishways were the first type to be developed and consist of a series of interconnected pools bypassing an obstruction. Many different types of pool fishways have been designed in Australia, however, the vertical-slot design is the only one which has proved effective with native fish.
Pool-type fishway (includes vertical slot fishway)
Denil Fishway
The denil fishway was developed in 1909 by a Belgian scientist, G. Denil. This style of fishway uses a series of symmetrical close-spaced baffles in a channel to redirect the flow of water, allowing fish to swim around the barrier.
Denil Fishway
Lock Fishway
Lock fishways operate by attracting fish through an entrance similar to that of a pool-type fishway, but instead of swimming up a channel the fish accumulate in a holding area at the base of the lock. This holding area is then sealed and filled with water to reach a level equal to the water upstream of the barrier. Fish are then able to swim out of the lock. To encourage fish to move through the various attraction and exit phases of the lock cycle, a combination of attraction flows and crowding screens can be used.
Lock Fishway
Trap and transport fishways
The trap-and-transport type of fishway involves attracting and trapping fish below a barrier and then physically transporting them over the barrier. The initial trapping is commonly done in a short section of pool-type fishway, with the fish usually being transported by road, rail or aerial car. The fishway at Tallowa Dam is the only example of a trap and transport fishway in NSW.
The frame that supports the hopper transporting fish from downstream to upstream.
The hopper (highlighted by the circle). The hopper is submerged on the downstream side of the wall. Fish are attraced into it by an enhanced water flow. A trapdoor closes and the hopper makes its way up and over the wall, transporting the fish to the upstream weir pool.
The structure that guides the hopper as it moves up and over the wall.
On the upstream side of the wall. The orange circle shows the hopper. The yellow circle shows the fish protection structures. These structures provide protection from predators for the fish released from the hopper.
(continous. Resource: http://www.dpi.nsw.gov.au)

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Hồ nước có tên gọi dài nhất thế giới

(Dân trí)- Sự phức tạp về tên gọi của hồ cũng khiến cho chính quyền địa phương không thể đánh vần được. Thậm chí, nhiều biển báo chỉ đường tới Hồ Chargoggagoggmanchauggagoggchaubunagungamaugg cũng viết sai chính tả.

Dòng chữ “Chargoggagoggmanchauggagoggchaubunagungamaugg” gồm 45 chữ cái là tên gọi của một hồ nước tọa lạc ở thị trấn Webster, tiểu bang Massachusetts, miền Đông Bắc nước Mỹ. Để dễ dàng hơn trong việc đánh vần, nhiều người đã rút ngắn dòng chữ bằng tên gọi “Hồ Chaubunagungamaug”, trong khi đó một số khác lại thích gọi bằng cái tên ngắn gọn hơn “Hồ Webster” theo tên của thị trấn Webster.

Với 45 chữ cái, tên gọi của hồ nước này được xem là tên riêng dài nhất ở Mỹ và là một trong những tên riêng dài nhất trên thế giới. Sự phức tạp về tên gọi của hồ cũng khiến cho chính quyền địa phương không thể đánh vần được. Thậm chí, nhiều biển báo chỉ đường tới Hồ Chargoggagoggmanchauggagoggchaubunagungamaugg cũng viết sai chính tả.


Hồ được biết đến từ rất sớm với nhiều tên gọi khác nhau như Chabanaguncamogue, Chaubanagogum, hay Chaubunagungamaug. Những nhà nghiên cứu lịch sử thừa nhận rằng; tất cả những tên trên đều mang một ý nghĩa chung “Nơi câu cá giáp biên”. Về tổng thể, hồ nước được chia ra 3 phần bởi những con kênh nhỏ, đây là địa điểm nổi tiếng và nơi tập trung của người da đỏ Nipmuc cùng với bạn bè của họ.


Tên gọi hiện tại của hồ có nguồn gốc từ những người thực dân Anh đến khu vực này vào thế kỷ XVIII. Ở thời điểm đó, một người đàn ông tên là Samuel Slater bắt đầu cho vận hành một nhà máy gần ngôi làng Manchaug. Những người da đỏ cũng bắt đầu gọi hồ nước này bằng cái tên “Chargoggaggoggmanchoggagogg”, tên gọi này đại khái có nghĩa là “Người Anh tại Manchaug”.

Đến năm 1831, cả thị trấn Dudley và Oxford sát nhập vào khu vực hồ, và được đánh dấu trên bản đồ bằng cái tên “Chargoggagoggmanchoggagogg”, trong khi đó một cuộc khảo sát về hồ được tiến hành năm 1830 chỉ ra tên gọi khác là“Chaubunagungamaugg” - một tên gọi cổ.

Thời gian sau đó, người ta đã quyết định thêm vào trước dòng chữ gốc “Chaubunagungamaug”  một cụm từ khác của người da đỏ là “Chargoggagoggmanchoggagogg” tạo thành cái tên mới “Chargoggagoggmanchauggagogg chaubunagungamaugg”,  tổng thể tên gọi này có nghĩa là “Người Anh tại Manchaug ở nơi câu cá giáp biên”.

Sau này, biên tập viên Laurence J. Daly của tờ The Webster Times một lần nữa gọi hồ với cái tên khá hài hước “Bạn câu cá bên bạn, tôi câu cá bên tôi, chẳng có ai câu cá giữa hồ”.


Hồ được hình thành do sự tan chảy của các dòng sông băng trong thời kỳ băng hà, đồng thời hồ được bổ sung nước từ các mạch suối nước ngầm. Do đó, đến với khu vực hồ là một cách tuyệt vời để du khách hòa mình cùng với thiên nhiên đất trời. Có một lối mòn dành cho người đi bộ nằm trong khu vực cũng là nơi thuận lợi để du khách phóng tầm mắt ra xa ngắm nhìn phong cảnh thiên nhiên.

Ngoài ra các khu đầm lầy quanh mép hồ cũng là nơi du khách rất thích thú, đó là một nơi lý tưởng để chiêm ngưỡng các loại động vật hoang dã. Các hoạt động phổ biến ở hồ như chèo thuyền, bơi lội…cũng là những trò tiêu khiển mà du khách rất quan tâm.

Đình Kiên
Theo Old Webster/AP/Yahoo

Thứ Tư, 9 tháng 10, 2013

Đập vòm Mauvoisin

Mauvoisin là đp vòm bêtông được xây trên sông Dranse de Bagnes trong tnh Valais phía nam Thy Sĩ. Sông bt ngun tdng núi Alpes. Thi gian xây dng 1951 – 1957 và nâng cp năm 1991 đ tăng kh năng h cha.

Thy Sĩ và đp Mauvoisin trên bn đ Tây Âu.
Mauvoisin là đập vòm bêtông được xây trên sông Dranse de Bagnes trong tỉnh Valais phía nam Thụy Sĩ. Sông bắt nguồn từ dặng núi Alpes. Thời gian xây dựng 1951 – 1957 và nâng cấp năm 1991 để tăng khả năng hồ chứa.

Đập cao 250m là đập cao thứ 8 và đập vòm cao thứ 2 trên thế giới. Chiều dài tuyến đập tại đỉnh 520m. Thể tích đập hơn 2 triệu m3. Phát điện và chống lũ là nhiệm vụ chính của đập, song đây cũng là nơi du lịch và nghỉ dưỡng tuyệt vời . Lưu vực sông trước đập 167km2. Dung tích hồ chứa 212 triệu  m3. Mặt hồ tại cao trình 1961m, rộng 208ha, chiều dài từ mặt thượng lưu đập đến cuối hồ gần 5km. Lưu lượng thiết kế qua tràn 107 m3/s.

Nước qua đập được dẫn với đầu nước 482m vào trạm thủy điện thứ nhất Fionnay gồm 3 tuabin Francis phát điện công suất 138 MW. Sau đó,  nước được dẫn tiếp với đầu nước 1014m vào trạm thủy điện thứ hai Riddes gồm 5 tuabin Pelton phát điện công suất 225 MW. Tổng cốnguất là 363MW.

Đập còn có nhiệm vụ giảm lũ cho vùng Bagnes & thung lũng sông Rhône lúc tan băng và nhiệm vụ kiểm soát bồi lắng. Hàng năm phải tìm cách xử lý 300 nghìn  m3 bồi lắng để kéo dài tuổi thọ của hồ và đảm bảo công suất thủy điện. Đã có đề án giải quyết song chưa triển khai do cân nhắc kỹ vấn  đề an toàn.

Mời xem những hình ảnh đập Mauvoisin trong video clip ‘Youtube’

và trong file đính kèm.
Nguồn vncold.vn

Thứ Sáu, 24 tháng 5, 2013

Thành phố châu thổ Rotterdam - nơi hội tụ của thách thức và cơ hội

Ashui.com-Bờ biển, những con sông, vùng châu thổ ở phía Tây Nam, đất than bùn lún – Rotterdam có tất cả. Cùng với hàng loạt vấn đề, các yếu tố này cũng đem đến những cơ hội lớn nhằm biến đổi và tái sinh vùng thủ phủ.

Đầu những năm 80, Rotterdam đã nỗ lực tạo ra hai sự thay đổi lớn. Đầu tiên, thành phố chuyển dịch theo một phía với các hoạt động kinh tế gắn với yếu tố cảng, pha trộn đa dạng giữa công nghiệp cảng, dịch vụ, tri thức và các ngành nghề sáng tạo. Thứ hai, thành phố này cố gắng xoá đi sự chia cắt và sự chênh lệch về phát triển đang tồn tại giữa hai bờ Nam Bắc của dòng sông. 
Thành phố Rotterdam nằm hai bên bờ sông Rotte
Vùng Nam Rotterdam là một trong những vùng đô thị có nhiều vấn đề nhất của Hà Lan sau khi công nghiệp cảng chuyển khỏi hai bờ sông tại trung tâm thành phố trong suốt những năm 1980 và 1990. Tỉ lệ thất nghiệp, nghèo đói, ít học, phân biệt chủng tộc và các vấn đề xã hội khác gia tăng mạnh mẽ tại khu vực. Từ năm 2006, Nam Rotterdam đã trở thành một mục tiêu trong chương trình nâng cấp điều kiện kinh tế xã hội cho những khu vực đô thị bị xuống cấp của chính phủ nước này.

Từ những năm 80, mục đích tái sinh những khu vực cảng cũ đi cùng với mong muốn nâng cao điều kiện sống tại Nam Rotterdam đã được triển khai thông qua các hoạt động cải tạo nhà ở và kiến tạo thêm không gian kết nối hai phần của thành phố. Một ví dụ là dự án Kop van Zuid, chuyển đổi 80 hecta của khu cảng trước đây trở thành một khu vực đô thị đặc biệt. Dự án đã đóng một vai trò rất quan trọng trong chiến lược tạo thêm những liên kết đô thị và thúc đẩy ý tưởng biến dòng sông trở thành lõi cảnh quan đô thị ngang qua vùng thủ phủ(1). Hay dự án Stadsvisie Rotterdam (Viễn cảnh cho thành phố Rotterdam) năm 2007 cũng nhấn mạnh yếu tố dòng sông bằng cách đề xuất phát triển 10.000 ngôi nhà tại khu vực ngập lụt.

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu lên quản lý tài nguyên nước và phòng chống lũ lụt cùng với khả năng cạnh tranh và bản sắc đô thị là các yếu tố rất được quan tâm chú ý, chúng tạo ra rất nhiều cơ hội trong việc tích hợp kỹ thuật thuỷ văn với các mục tiêu phát triển của thành phố.
Vị trí các công trình trong dự án Delta Works
CỦNG CỐ BẢN SẮC CỦA THÀNH PHỐ CHÂU THỔ: NGHIÊN CỨU THÔNG QUA THIẾT KẾ (RESEARCH BY DESIGN)
Thành phố Rotterdam đã rất nỗ lực nhằm tích hợp hai vấn đề: quản lý nước và tái sinh đô thị trong nhiều năm gần đây. Vào năm 2005, thành phố giới thiệu bản quy hoạch Thành phố nước Rotterdam 2035, nỗ lực đầu tiên nhằm phát triển một kế hoạch tổng thể gắn với 2 vấn đề nêu trên. Bản quy hoạch tập trung vào sự cần thiết nâng cao số lượng không gian trữ nước trong thành phố. Hệ thống thoát nước hiện hữu của đô thị không đáp ứng nổi sự gia tăng của lượng mưa bởi rất nhiều những con kênh cổ trong đô thị đã bị san lấp. Các nhà thiết kế thuộc Sở Quy hoạch thành phố, kỹ sư thuộc Sở các công trình công cộng, và các nhà quản lý Ban nước của vùng đã cùng ngồi lại đề xuất một cách nghĩ mới nhằm tích hợp nhiều hệ thống hạ tầng trữ nước và thoát nước đô thị(2). Năm 2008, những ý tưởng này đã được sát nhập trong Kế hoạch nước 2 của Rotterdam - một điều khoản chính thức của thành phố Rotterdam và ba uỷ ban về nước của vùng - đề xuất thêm vào một lượng lớn nước bề mặt trong đô thị nhằm trữ và thoát nước mưa. Điều thú vị ở đây là bản kế hoạch đã cố gắng tận dụng những không gian đặc trưng riêng biệt của các phần khác nhau trong thành phố. Phần phía Bắc, với tính chất của đất than bùn và các tuyến đường dài, giống như một tấm bọt biển có khả năng thấm thấu nhiều nước, được đề xuất tích hợp chức năng thấm vào các nhân tố cấu trúc nên khu vực. Đặc biệt là không gian dành cho trữ nước bề mặt sẽ được bố trí dọc theo các đại lộ lớn và trong công viên.

Đề xuất cho vùng Nam Rotterdam lại khác hơn một chút. Bản kế hoạch tập trung nhấn mạnh vào tính chất nguyên bản của khu vực, nơi khởi đầu là tập hợp của những hòn đảo nhỏ. Nhằm nhấn mạnh tính chất đặc biệt của từng hòn đảo nguyên bản, những đặc điểm mới của nước sẽ được tích hợp vào trong cấu trúc của chúng.
Sử dụng đất và mặt cắt khu vực hai bên bờ sông Rotte. Đường màu đỏ thể hiện hệ thống đê sông.
Bản kế hoạch đã cố gắng kết hợp cấu trúc hạ tầng nước mới với chiến lược nổi bật hoá đặc trưng riêng biệt của các khu vực trong đô thị. Đặc biệt ở Nam Rotterdam, nó tập trung vào chiến lược sử dụng địa hình tự nhiên và lịch sử khu vực hơn là xây dựng hạ tầng với tỉ lệ lớn, với mong muốn liên kết khu vực phía bắc và phía nam thành phố.

Cùng với vấn đề trữ lượng mưa, Rotterdam còn phải quan tâm tới vấn đề thoát nước lúc cao điểm, sự dâng cao của mực nước sông và nước biển. Nếu nước thoát từ sông đạt tới ngưỡng cùng lúc với bão lớn từ biển, kết quả sẽ còn tồi tệ hơn cả trận lụt năm 1953 tràn ngập khắp Tây Nam Hà Lan và nhấn chìm 2000 người. Nước lụt dâng cao hơn 4m so với mực nước biển trong suốt thảm hoạ. Nhưng trong tương lai, những mức nước cao như vậy hoàn toàn có thể xảy ra, và khi mực nước cao hơn đê nó sẽ ảnh hưởng đến những khu vực phía trong đê cũng như các khu vực cửa sông.

Vì thế, một câu hỏi lớn đặt ra đó là liệu có thể thiết kế một hệ thống chống ngập lụt dựa vào triết lý “xây dựng với thiên nhiên” (building with nature) và phát triển các môi trường đô thị giàu sức cạnh tranh và hấp dẫn ở Nam Rotterdam? Và liệu có thể biến những điểm yếu về kinh tế xã hội và tính dễ bị tổn thương bởi lũ lụt của khu vực trở thành các thế mạnh?

Nhằm trả lời các câu hỏi đó, Hội đồng Châu thổ đã đề nghị phá bỏ một hoặc một số đập nước thuộc dự án Delta Worksi (Các công trình Châu thổ) nhằm cho phép thoát nhiều nước hơn từ sông ra biển. Trong dự án “Nghiên cứu thông qua thiết kế” được tổ chức bởi TU Delft, bốn kịch bản khác nhau đã được đưa ra và nghiên cứu bài toán này trong mối quan tâm tới tình trạng của đô thị và mục tiêu phát triển kinh tế(3).

Kịch bản 1 là làm giảm vai trò của Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg là các kênh thoát nước và dẫn hướng hầu hết nước sông tới cửa sông phía Nam của vùng Rotterdam. Có thể đóng Nieuwe Waterweg bằng cách khoá lại, giống như kênh Biển Bắc gần Amsterdam. Nhiều khoá sẽ được xây dựng tại các sông đổ về Đông Rotterdam. Các con đê phía Nam vùng Rotterdam dọc theo Haringvliet sẽ được nâng cao và củng cố, nhằm tăng tính an toàn. Trên thực tế, tuyến đê vành đai số 14 sẽ được mở rộng cho tới phía Nam nhằm hoàn toàn kiểm soát mức nước trong đô thị, như trường hợp Amsterdam. Giải pháp này giả thiết những hoạt động cảng quan trọng nhất sẽ tập trung tại khu vực cảng cải tạo Maasvlakte, vị trí của hệ thống khoá phía Tây. Nó thống nhất các mức độ bảo vệ trong cả vùng Rotterdam, hoàn toàn kiểm soát được mực nước và làm giảm tiếp cận tới các cảng nước sâu.
Kịch bản 1: Giảm vai trò của hai kênh thoát nước Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg, khoá các lối vào của nước, thoát nước chủ yếu về hướng Nam của vùng
Kịch bản 2 duy trì vai trò của Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg như một phần của hệ thống thoát nước sông, bao bọc vùng bằng một chuỗi các barie di động chắn sóng. Trong kịch bản này, những con đê phía Nam Rotterdam dọc theo Haringvliet cũng sẽ được nâng cao và cũng cố, nhằm gia tăng tiêu chuẩn an toàn cho Nam Rotterdam. Chỉ khi trời có bão thì các đập di động mới cần đóng lại. Hơn nữa, trong kịch bản này, toàn bộ vùng Rotterdam sẽ được bảo vệ bởi tuyến đê vành đai số 14. Sự khác biệt giữa kịch bản này và kịch bản ban đầu là trong hoàn cảnh thông thường ảnh hưởng của các dòng chảy của sông và thuỷ triều trong đô thị vẫn được duy trì và các khu vực cảng vẫn tiếp tục vận hành như thường lệ.
Kịch bản 2: Duy trì vai trò của Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg như các kênh thoát nước chính, đưa hệ thống barie chắn sóng di động vào vị trí các lối thoát nước.
Kịch bản 3 duy trì vai trò của Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg như một phần của hệ thống thoát nước sông, bao bọc khu vực phía Nam Rotterdam với một tuyến đê vành đai được nâng cấp – với mức độ an toàn như tuyến đê vành đai 14. Ảnh hưởng của dòng chảy sông và thuỷ triều được duy trì, và các hoạt động vẫn tiếp tục được tiến hành tại các khu cảng hiện hữu. Sự khác biệt giữa kịch bản này và kịch bản 2 đó là củng cố những tuyến đê bao quanh vùng Nam thay vì thay thế bởi hàng loạt barie di động.
Kịch bản 3: Duy trì vai trò của Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg như các kênh thoát nước chính, nâng cấp các con đê hiện hữu
Kịch bản 4 khuyếch trương vai trò của Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg như một kênh thoát nước và mở một hệ thống lạch và nhánh sông phụ trợ cho phép thoát nước lũ khi nước sông dâng cao. Những barie chắn sóng tại cửa sông được duy trì để bảo vệ khu vực phía trong chống lại những cơn bão khắc nghiệt. Khu vực này cũng chịu sự ảnh hưởng của thuỷ triều. Sự tái xuất của các lạch và nhánh sông sẽ trở thành một phần của cảnh quan trong hầu hết thời gian, nhưng trong thời kỳ thoát lũ khi nước sông dâng cao, chúng tạm thời bị ngập lụt. Tại khu vực đô thị phía nam Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg, hiệu quả của dòng chảy sông và thuỷ triều mạnh hơn, và các khu vực cảng hiện hữu vẫn tiếp tục vận hành. Những con đê vững chắc hơn bao quanh các hòn đảo sẽ đảm bảo sự an toàn cho cư dân sống tại đó.
Kịch bản 4: Nâng cấp vai trò của Nieuwe Maas và Nieuwe Waterweg cùng với các vùng kiểm soát lũ
Những kịch bản này thể hiện bốn cách thức khác nhau điều khiển tác động của sông và mực nước biển bằng cách sử dụng bốn hệ thống hạ tầng khác nhau.

Sử dụng cách tiếp cận lớp (layer approach), chúng nhấn mạnh tầm quan trong của quy hoạch và thiết kế các mạng lưới cơ sở hạ tầng (lớp thứ 2) – cái ”khung” cơ bản tạo hình các trạng thái trong hai lớp khác: tầng đất cái của lãnh thổ (bao gồm nước, dòng chảy của sông, kiểm soát lũ, xói mòn đất, hệ sinh thái và đai dạng sinh học) và hoạt động của con người (bao gồm môi trường đô thị, hoạt động công nghiệp và nông nghiệp)

Vấn đề giá và vốn cho từng kịch bản không hề đơn giản, tuy nhiên điều quan trọng cần cân nhắc là những nguồn đầu tư trước mắt và giá thành, cũng như cần quan tâm đến chất lượng của đất và môi trường xây dựng trong thời gian dài hạn

MẠNG LƯỚI CÁC VÙNG NGẬP NƯỚC
Ý tưởng về một quy trình hoạch định chính sách nhằm cân nhắc các ảnh hưởng và tận dụng cơ hội của từng kịch bản là rất cần thiết. Nó giúp người dân và chính quyền có nhiều thông tin để tranh luận về ưu điểm và nhược điểm của từng sự lựa chọn.

Tuy nhiên, do sự hạn chế của thời gian, dự án tập trung vào lựa chọn thứ tư. Mô hình này hấp dẫn từ khía cạnh quản lý tài nguyên nước bởi nó nâng cao được sức chứa của vùng để giải quyết đồng thời hai vấn đề thoát nước sông và bão nếu chúng diễn ra cùng một thời điểm. Nó cũng cung cấp điều kiện tối ưu cho việc ngăn chặn xọi mòn đất nhờ đưa thêm vào các dòng chảy mới cho khu vực.

Hơn thế nữa, hệ thống cửa sông, dòng chảy và nhánh sông được cung cấp một mạng lưới mở rộng của các vùng ngập nước đô thị khiến chúng cải thiện được hệ sinh thái châu thổ và nâng cao đa dạng sinh học.

Thêm vào đó, kịch bản bốn cũng tối ưu hoá các điều kiện nhằm phát triển công nghiệp cảng. Vào thời điểm hiện tại, nhu cầu trữ dầu và ngành công nghiệp hoá dầu ngày càng phát triển, chiếm phần lớn quỹ đất tại cảng và đòi hỏi khu vực này một sự thay đổi triệt để. Trong kịch bản đầu tiên, cảng của Rotterdam tập trung tại Maasvlakte và vào hoạt động bốc xếp container. Tuy nhiên, cảng cũng cần phát triển những phương thức mới trong bốc dỡ hàng khối lượng lớn, lưu kho và công nghiệp chế biến với nguồn năng lượng mới (như nhiên liệu sinh học, năng lượng địa nhiệt, năng lượng gió và mặt trời). Các hoạt động kinh tế mới này cần không gian gần các khu vực nước sâu. Bởi vậy kịch bản một không có tính thực tế và kịch bản bốn đưa ra điều kiện tốt nhất cho việc gia tăng sản xuất năng lượng.
Quy hoạch vùng Rotterdam với các khu vực cho phép ngập có kiểm soát.
Cuối cùng, lựa chọn thứ tư mang lại những cơ hội tối ưu nhằm chuyển đổi không gian đô thị Nam Rotterdam thành một “thành phố châu thổ” cuốn hút với bản sắc độc nhất. Thay vì cấy thêm một vài tính năng nước mới vào cấu trúc đô thị hiện hữu, không gian đô thị sẽ biến đổi thành một dạng mới hấp dẫn hơn, hướng tới yếu tố nước, đó là điểm khác biệt chủ đạo với không gian phía Bắc dòng sông.

Trong khi đường biên phía Bắc có thể coi như một “ban-công” của khu bờ sông cung cấp những tầm nhìn ra cảnh quan châu thổ, bờ Nam lại cung cấp không gian để sống trong vùng châu thổ, nơi liên kết nhà ở và mặt nước với các phương thức phát triển khác nhau. Dự án “nghiên cứu thông qua thiết kế” cũng đưa ra một vài ví dụ về các khu vực định cư khác nhau trên vùng đô thị ngập nước này, như nhà ở trên khu bến tàu ngày xưa, hay bên cạnh các nhánh sông mới được khai thông trở lại.

KIẾN TẠO CÁC ĐIỀU KIỆN TỪ THIẾT KẾ CÁC LỚP HẠ TẦNG
Một dự án thiết kế rõ ràng không thể là một đề xuất cuối cùng. Mục tiêu của nó là chỉ ra phương pháp nhằm cân bằng khác biệt giữa phát triển đô thị cơ sở và những lựa chọn trong việc quản lý nước cho các khu vực đô thị hoá ở Hà Lan.

Phương pháp này dựa trên cách tiếp cận lớp (layer approach) và tập trung vào thiết kế cân bằng lớp cơ sở hạ tầng của các con đê, đập, cửa cống và các dự án nước. Lớp này chính là một khung có thực nhằm cấu trúc lớp đất tự nhiên và lớp hoạt động của con người bao gồm không gian xây dựng và các khu vực công nghiệp. Ý nghĩa thực chất của bốn sự lựa chọn đó là chúng đưa ra những cách thức khác nhau nhằm cấu trúc nên lớp dưới cùng cũng như việc phát triển đô thị và công nghiệp.

“Nghiên cứu thông qua thiết kế” đưa ra những khả năng và điều kiện cho chỉ một lựa chọn. Nó thách thức các chuyên gia và chính trị gia tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc phân tích cẩn trọng và chuẩn bị kỹ lưỡng cho cả bốn kịch bản.
Han Meyerii / Nguyễn Phương Ngaiii & Nguyễn Đỗ Dũng (biên dịch)
(Bài đã được đăng trên Tạp chí Quy hoạch Đô thị số 09 - 2012)
Chú thích:
(1) Han Meyer, Thành phố và Cảng

(2) Thành phố nước Rotterdam 2035 là đóng góp của thành phố Rotterdam và Ban nước của vùng tới Hội nghị Kiến trúc Quốc tế Rotterdam tổ chức hai năm một lần. “Lũ lụt” là chủ đề được quan tâm và được điều phối bởi kiến trúc sư cảnh quan Adriaan Geuze.

(3) Dự án Nghiên cứu thông qua thiết kế được phát triển bởi TU Delft và các sinh viên Chương trình Cao học Châu Âu về Đô thị học năm 2009. Nó là một phần của dự án nghiên cứu “Chiến lược thích ứng”, được tổ chức bởi Thành phố Rotterdam, TU Delft, Viện nghiên cứu các vùng Châu thổ, trường Hoge Rotterdam, Arcadis Engineers, INBO Architects, và Dura-Vermeer Construction. 

(i) Delta Works là một loạt các dự án trị thủy và ngăn biển tại Tây Nam Hà Lan được xây dựng sau trận lụt lịch sử vào năm 1953. Dự án thu ngắn đường bờ biển của khu vực nhằm giới hạn chiều dài đê phải nâng cao, giải quyết vấn đề ngập lụt cho vùng châu thổ Tây Nam và giảm sự tàn phá của sóng biển trong các cơn bão. Mức bảo vệ của dự án là các trận lụt 10.000 năm.
(ii) Hen Meyer là cựu giám đốc quy hoạch của thành phố Rotterdam và hiện là giáo sư về lý thuyết và phương pháp thiết kế đô thị tại Đại học Kỹ thuật Delft. Bài viết là một chương trong cuốn Delta Urbanism – The Netherlands (Đô thị Châu thổ - Hà Lan) do Hội Quy hoạch Hoa kỳ (APA) đặt hàng ba chuyên gia hàng đầu thế giới về quản lý nước và thiết kế đô thị tại Đại học Kỹ thuật Delft là Han Meyer, Inge Bobbink, và Stenffen Nijhuis thực hiện. Cuốn sách nằm trong nỗ lực của APA nhằm thúc đẩy năng lực quản lý và quy hoạch các thành phố châu thổ trước rủi ro ngập lụt và Biến đổi khí hậu sau sự kiện siêu bão Katrina tàn phá New Orleans năm 2005.
(iii) Nguyễn Phương Nga là kiến trúc sư và nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Đại học Kỹ thuật Queensland (Úc) về đô thị học cảnh quan (landscape urbanism).

Bài đăng phổ biến