Hiển thị các bài đăng có nhãn XH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn XH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Tại sao Đường Tăng vô dụng lại trở thành người lãnh đạo, còn Tôn Ngộ Không tài phép thì lại là kẻ làm công?

4 điều rút ra sau đây sẽ cho bạn 1 bài học quý báu trong cuộc sống, công việc kinh doanh đặc biệt là những người đang làm ở vị trí quản lý.

1. Niềm tin tối cao
Cái đầu tiên mà Đường Tăng có mà Tôn Ngộ Không không có đó là niềm tin tối cao.

Đường Tăng luôn tiến về phía trước bằng niềm tin cao nhất của mình, dù có hi sinh tính mạng không từ bỏ, nhưng Ngộ Không thì không thể. Anh ta năng lực tốt, nhưng không kiên định vào mục tiêu của mình, nhiều lần đánh trống bỏ dùi. Người không có niềm tin, sẽ khiến người khác không tin theo và mất đi động lực, khi gặp phải khó khăn thì dễ dàng chùn bước, người lãnh đạo một khi khiếp đảm, lùi bước rồi, thì đoàn đội anh ta cũng tan vỡ theo. Với những người không có đủ niềm tin tối cao cũng không được, chỉ trông vào lợi ích cá nhân, biết mình không biết người thì chỉ khiến người khác bỏ mình mà đi.

Giống như Tống Giang trong Thủy hử truyện, là một người không có niềm tin tối cao, cuối cùng bị chiêu an, mà cái lý tưởng cao nhất của ông ta cũng chỉ có vậy, vì thế mà hại chết cả đồng đội của mình.


2. 'Vô Dụng' cũng là tài sản quý giá của một người lãnh đạo
Cái thứ 2 mà Đường Tăng có mà Tôn Ngộ Không không có chính là 'Vô Dụng'.

Đường Tăng vô dụng như vậy nên ông ta mới thích người có bản lĩnh, mới có thể bao dung những khuyết điểm của người khác (cũng vì như vậy nên phần lớn những chuyên gia kỹ thuật không làm nổi ông chủ), và mới tìm được ba đồ đệ tài ba bảo hộ mình. Nếu như Đường Tăng cũng thần thông quảng đại, thì Tôn Ngộ Không sẽ không tình nguyện theo ông ta rồi.

Cũng chính vì Đường Tăng vô dụng mà Tôn Ngộ Không mới có đất dụng võ, mới khiến anh ta có thể thể hiện được hết giá trị của mình.Cứ xem Tôn Ngộ Không dù năng lực có mạnh như vậy, nhưng đám đồ tử đồ tôn của anh ta ở Hoa quả sơn, cũng chỉ toàn là lũ vô dụng (thùng cơm), không một ai được việc gì. Vì bản lĩnh của anh ta quá lớn, anh ta mới xem thường khả năng của người khác, vậy là những người có năng lực cũng không thích cùng anh ta. Bản thân là kẻ mạnh, nhưng đoàn đội của anh ta lại trở thành một lũ vô dụng.

Nhiều công ty, xí nghiệp đều có một ông chủ vô cùng giỏi giang, nhưng lại dẫn dắt một đoàn quân vô dụng. Lúc đầu khởi nghiệp, vì sinh tồn, mà bắt buộc phải như vậy để tồn tại, nhưng một khi vấn đề sống còn (sinh tồn) được giải quyết rồi, thì lẽ ra những ông chủ này phải suy nghĩ xem làm thế nào để tạo cơ hội cho những nhân viên tự phát huy khả năng của mình, đồng thời tìm kiếm để bù đắp những công nhân mình còn thiếu, chứ không phải là phàm việc gì cũng tự mình nhúng tay làm (sự tất cung thân), thậm chí ở lĩnh vực chuyên môn không hiểu cũng cứ giả vờ là hiểu.

Như thế một mặt làm mình mệt mỏi đứt hơi, tối mũi tối mắt lo ứng phó, thì tự nhiên còn đâu con đường phát triển. Mặt khác nhân viên của mình cũng bị 'lùn hóa' thành 'công cụ làm việc' (tay chân); sự phát triển của công ty đi đến chỗ nút thắt cổ bình. Nhiều ông chủ cho rằng chỉ dựa nhân viên thì không được, không thể yên tâm, nếu công ty chỉ dựa vào một mình Tôn Ngộ Không, ngộ nhỡ anh ta không tốt, thì biết thế nào. Khà khà, sao không niệm chú cho vòng kim cô thắt chặt vào? Phải xây dựng một chế độ chính sách để ràng buộc người tài – điều này nhất định không được quên.

3. Nhân đức
Cái thứ ba mà Đường Tăng có, Tôn Ngộ Không không có là 'nhân đức'.

Vì có lòng nhân đức nên Đường Tăng thương hại cả tính mạng của yêu quái, như thế cũng sẽ không biết so đo với thuộc hạ của mình, sẽ không phạt hay trừ tiền công của họ, không ức hiếp họ phải tăng ca, không thực hiện 'tẩy não giáo dục', không lợi dụng họ gánh thay trách nhiệm pháp luật, che chắn bản thân khi gặp nguy hiểm,...

Đường Tăng mặc dù lợi dụng ba đồ đệ bảo hộ mình, nhưng lại tuyệt đối không có ý bóc lột mà lại dẫn dắt họ cùng nhau nỗ lực, cùng nhau trưởng thành, cùng nhau thành công. Sau cùng, ba đồ đệ của Đường Tăng cũng đều đạt được thành tựu .

Đường Tăng không giống như Triệu Khuông Dẫn 'chén rượu tước binh quyền' hoặc là 'chim trời chết, chó săn cũng thịt'. Còn với Tôn Ngộ Không thì ý thức này của anh ta kém xa sư phụ của mình, sau này khi là 'đấu chiến thắng Phật rồi', nhưng bầy quân của anh ta ở Hoa quả sơn cũng vẫn chỉ là bầy khỉ hoang mà thôi.

Ở Nhật Bản có một công ty, họ mời bố của nhân viên đến công ty ngồi tọa đàm với các quản lý. Ông chủ công ty nói với toàn bộ quản lý, khi các vị không biết phải đối đãi thế nào với những nhân viên dưới quyền của mình, thì hãy nghĩ lại ngày hôm nay, những ông bố của nhân viên mình đã gửi gắm con của họ cho các vị, là mong các vị có thể giáo dục họ trưởng thành, dẫn dắt họ đi đến thành công. Các vị phải nghĩ xem bản thân mình đã xứng với sự ủy thác đó chưa?

4. Mối quan hệ
Cái thứ tư Đường Tăng có mà Tôn Ngộ Không không có đó là 'mối quan hệ' (nhân tố quan hệ).

Kiếp trước của Đường Tăng đã là đệ tử của Phật thích ca mâu ni, còn Tôn Ngộ Không chỉ là một con khỉ đá do trời đất sinh ra không mảy may có một mối quan hệ dây dưa nào. Mặc dù anh ta có bái một vị sư phụ, nhưng lại kém cái quan hệ với với các sư huynh đệ đồng môn, sau cùng lại còn bị sư phụ đuổi xuống núi (tống cổ), kết anh em với Ngưu Ma Vương, nhưng sau rồi cũng lại phản, là hàng xóm với Đông Hải Long Vương vậy mà còn cướp đoạt đồ nhà người ta, cùng là đồng sự (đồng nghiệp) với Nhị Lang thần và các quan tướng khác ở thiên đình nhưng chẳng tôn trọng nể mặt người khác (làm mất mặt đồng nghiệp). Cuối cùng lại còn gây đại náo thiên cung, 'đá đít' nhiều người. Cuốn sách 'Ai che lưng cho bạn' cũng đã nói cấm có sai, ở Việt Nam ta nhất quan hệ rồi nhì mới đến tiền tệ có lẽ cũng là cái quy luật này.

Tóm lại, mối quan hệ xã hội của TNK rất không tốt. Đường Tăng thì không giống như vậy. Ông nhìn thấy thần tiên đều rập đầu bái lạy, cũng không có một kẻ thù nào. Ông không những là đệ tử của Như Lai, lại còn là ngự đệ của vua Đường Lý Thế Dân. Mối quan hệ cao cấp ở cả hai giới người và thần đều có, quan hệ không những tốt mà còn là quan hệ ở cấp cao, quan hệ thông thiên. Người như vậy thì làm ông chủ sẽ thuận buồn xuôi gió. Xã hội là do con người cấu thành, quả đất này nếu không có con người, thì tất cả sự giàu có, tất cả vật chất đều không có ý nghĩa gì hết. Con người là nguồn tài nguyên bản chất nhất thế giới này, là sáng tạo của mọi tài sản. Là một ông chủ, về đối ngoại phải biết tạo dựng những mối quan hệ (nguồn quan hệ), đối nội phải biết sáng tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao (nhân tài).

Tóm lại, Đường Tăng hơn Tôn Ngộ Không những thứ gì? ĐÓ LÀ NIỀM TIN TỐI CAO, 'SỰ VÔ DỤNG', TRÁI TIM NHÂN ĐỨC và HỆ THỐNG QUAN HỆ XÃ HỘI TỐT.

Vì thế Đường Tăng có thể làm lãnh đạo, có thể lãnh đạo được Tôn Ngộ Không. Dù Tôn Ngộ Không trong mắt chúng ta là một anh hùng, nhưng anh ta lại không thể tự mình làm nên sự nghiệp vĩ đại, anh ta cần thiết phải dựa vào Đường Tăng dẫn dắt mình. Với ý nghĩa này, Đường Tăng mới là một anh hùng, ít nhất cũng là anh hùng mà những ai làm ông chủ thực sự sùng bái.
Nguồn: stardaily

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

Chủ quyền biển đảo, máu thịt người đời!

Việt Nam ta bốn ngàn năm văn hiến, nhỏ bé thôi nhưng anh dũng vô cùng. Hai tiếng “Việt Nam” hai tiếng tự hào. Tự hào bởi dải đất cong cong hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương - nơi “đẹp núi, đẹp sông, đẹp những cánh đồng”.
Nơi “rừng vàng biển bạc”, nơi những anh tài được nuôi dưỡng, nơi những chiến công oanh liệt được ghi vào sử sách của Thế giới, và nơi ấy không thể lẫn với bất kỳ quốc gia nào… Việt Nam – Tổ quốc chúng ta.

 “ Có nơi đâu đẹp tuyệt vời 
Như sông, như núi, như người Việt Nam”

Lãnh thổ đất liền mang dáng dấp hình chữ S xinh xinh, nhỏ nhắn nằm ở rìa phía Đông của bán đảo Đông Dương, Việt Nam ta được vùng biển Đông rộng lớn ôm trọn và bao bọc nên ngàn đời nay “đất liền” với “dân” với “ biển, đảo” gắn bó bên nhau chẳng thể tách rời. Biển, đảo Việt Nam luôn được nhắc đến như một phần máu thịt của dân tộc Việt.
Hải quân Nhân dân Việt Nam. Ảnh minh họa
Vào những ngày này khi cả nước đang có nhiều hành động thiết thực chung tay góp sức hướng về Trường Sa, Hoàng Sa thân yêu, với những tình cảm thiêng liêng nhất, cao quý nhất, chân thành nhất, lòng tôi cũng rạo rực với những cảm xúc khó diễn tả thành lời. Cái cảm xúc của một chàng thanh niên mang trong mình ước mơ và khát vọng cháy bỏng được đóng góp công sức dù chỉ là nhỏ nhoi của mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ biển đảo quê hương yêu dấu, giữ vững chủ quyền đất nước mà cha anh ta ngàn đời nay vẫn làm. Trường Sa, Hoàng Sa, Biển đảo quê hương - những tên gọi thân thương mà chỉ nhắc đến thôi trong tôi lại vỡ òa bao cảm xúc. Dù tôi chưa từng đặt chân đến hết mọi miền Tổ quốc, không được chứng kiến tận mắt những sự kiện mà trong những năm gần đây, quân và dân ta ở biển đảo phải chịu đựng và chống cự kiên cường, tôi chỉ được biết qua những thước phim tư liệu, hình ảnh đất nước Việt Nam trải dài từ mục Nam Quan đến mũi Cà Mau đẹp như tranh vẽ trong câu thơ của nhà thơ Tỗ Hữu:
Ngày 19-9-1954, Bác Hồ về thăm Đền Hùng, gặp gỡ cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân Tiên phong khi Đại đoàn về tiếp quản Thủ Đô. Người căn dặn: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước. Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Bác như đã nói lên một trong những quy luật phát triển của đất nước là: “Dựng nước” luôn gắn liền với “Giữ nước”. Có dựng nước mạnh mới giữ được nước bền và ngược lại có giữ vững độc lập tự chủ của đất nước mới xây dựng được xã hội Việt Nam giầu mạnh văn minh.


“Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi
Rừng cọ đồi chè đồng xanh ngào ngạt
Nắng chói sông Lô hò ô tiếng hát
Chuyến phà dào dạt bến nước Bình ca”

Hình ảnh người lính hải quân chắc tay súng bảo vệ chủ quyền biển đảo từ những thước phim tư liệu ấy như sống thực trong trí óc tôi. Những người lính ngoài đảo xa ấy không ngại gian khổ nơi đầu sóng ngọn gió, đang ngày đêm canh giữ đất trời tổ quốc, dẫu cho bão táp phong ba, dẫu cho khó khăn gian khổ vẫn trọn lời thế bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo quê hương. Đã từ lâu tôi luôn coi họ như là những người anh trai của mình vậy, những người anh, người đồng đội của tôi trong lực lượng vũ trang. Và hình ảnh những đoàn tàu không số băng mình trong mưa bom bão đạn ra sức chi viện cho miền Nam lại hiện lên. Còn đó những ngư dân ven biển quyết chí bám biển, một tấc cũng không rời dù có bị dụ dỗ hay đe dọa, cả tính mạng họ cũng không màng. Chỉ bấy nhiêu thôi cũng đủ làm trái tim tôi thổn thức chỉ muốn hét lên thật to, thật rõ:

“Tổ quốc ơi ta yêu người mãi mãi.
Trọn đời mình quyết giữ vững quê hương”.

Tôi lớn lên ở một làng chài ven biển miền Trung, cái mặn mòi của biển cả ru lớn tâm hồn tôi, hiểu được sự khắc nghiệt của đại dương mênh mông mang lại, tôi thấy yêu hơn vẻ đẹp hùng vĩ, bao la mà không kém phần huyền ảo của nó, để thấy tự hào hơn, trân trọng hơn chủ quyển biển đảo quê hương. Đó là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm mà như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố: “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Đó là chủ quyền mà ông cha ta đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu, nước mắt không quản “sáng ngăn bão giông chiều ngăn nắng lửa” để bảo vệ, giữ gìn.

 Yêu lắm Việt Nam, yêu lắm biển đảo quê hương - một phần lãnh thổ không thể tách rời của Tổ quốc. Càng yêu quý bao nhiêu lại càng thấy bất bình bấy nhiêu trước những hành động ngang ngược vi phạm nghiêm trọng chủ quyền biển đảo thiêng liêng của đất nước, vi phạm trắng trợn pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về biển đảo, sẵn sàng chà đạp lên tất cả với mưu đồ độc chiếm biển Đông.

Không! Sẽ không một ai và bất cứ kẻ thù nào có thể thực hiện được mưu đồ đen tối đó. Lịch sử dân tộc ta, lịch sử của một dân tộc anh hùng đã sống và chiến đấu với một lòng nồng nàn yêu nước, một ý chí kiên cường quật khởi luôn ra sức bảo vệ, giữ gìn độc lập dân tộc, giữ gìn hồn thiêng sông núi nước Nam. Với chúng tôi, những thanh niên của Học viện An ninh nhân dân đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy truyền thống hào hùng ấy…

Các bạn thì sao? Thanh niên thế hệ trẻ chúng ta hãy để cho nhiệt huyết tuổi trẻ bùng cháy cho sức sống căng tràn, hãy là một ngôi sao băng rực cháy chứ đừng làm dải ngân hà vĩnh cữu nhưng mờ nhạt. Bởi tuổi trẻ qua đi không bao giờ trở lại. Tổ quốc ta, biển đảo quê hương ta đang đón chờ những người con của đất mẹ để hiến dâng sức trẻ cho chủ quyền dân tộc. Chúng ta hãy sẵn sàng. Chúng tôi luôn mong rằng, là những thanh niên của một đất nước Việt Nam anh hùng, các bạn trẻ hãy sống và xây cho đời những ước mơ hoài bão thật cao đẹp để xây dựng quê hương đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh. Lịch sử sẽ nhắc đến, ghi tên và biết ơn các bạn, nhưng các bạn hãy nhớ một điều rằng, tình yêu quê hương đất nước, yêu biển đảo không đồng nghĩa với những việc làm thiếu suy nghĩ, trái đạo đức lương tâm, vi phạm đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước…

Tương lai đang vẫy gọi các bạn, Tổ quốc đang chào đón chúng ta từng ngày từng giờ, mỗi cá nhân hãy chuẩn bị cho mình hành trang thật tốt để bước vào đời, bước vào cuộc hành trình thiêng liêng bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Tôi rất may mắn khi đang là sinh viên của một ngôi trường với bề dày 67 năm hình thành và phát triển, đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp cách mạng của nước nhà. Ngôi trường mà tôi muốn nhắc tới ở đây chính là Học viện An ninh nhân dân, cái nôi đào tạo ra những chiến sĩ an ninh vững về chính trị, giỏi về pháp luật, tinh thông nghiệp vụ, vừa hồng vừa chuyên, xứng đáng là “cánh tay đắc lực” của Đảng và Nhà nước, góp phần giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ trật tự an toàn xã hội. Với tôi, được khoác lên mình bộ quân phục màu “cỏ úa” là một niềm vinh dự lớn lao bởi:

“Quân phục tôi mang là cỏ úa màu xanh
Màu biểu tượng cho sự trung thành với Đảng”

Nhưng lại càng thấy trách nhiệm của mình to lớn hơn, nặng nề hơn. Đó không chỉ là trách nhiệm của một người con đối với quê hương đất nước mà hơn nữa còn là trách nhiệm của người chiến sĩ công an, người đầy tớ trung thành của nhân dân, với trách nhiệm mang lại cho nhân dân cuộc sống bình yên và hạnh phúc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ nước nhà.

Chúng tôi tự hứa với lòng mình sẽ không bao giờ để lãng phí dù chỉ là một phút giây vào những việc làm vô bổ. Quãng đời sinh viên là vô cùng quý giá để chúng tôi trang bị kiến thức, tích lũy kinh nghiệm cho bản thân để bước vào sự nghiệp chiến đấu bảo vệ ANQG, giữ vững chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo ở biển Đông diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt. Là sinh viên Học viện An ninh nhân dân, chúng tôi sẽ tích cực học tập và rèn luyện phẩm chất đạo đức, trau dồi bản lĩnh chính trị, không ngại khó khăn gian khổ để trở thành những chiến sĩ an ninh vừa hồng vừa chuyên dù hiểm nguy muôn ngả vẫn sẵn sang ungdung bước tiếp chẳng ngại chi. Bên cạnh đó, chúng tôi còn đẩy mạnh tham gia nghiên cứu khoa học, viết bài dự thi tìm hiểu, đặc biệt là về vấn đề chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Đây thực sự là một hoạt động có ý nghĩa thiết thức góp phần chung tay cùng cả nước bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương thân yêu.

Ai đó đã nói rằng, cuộc đời là những chuyến đi, mỗi chuyến đi là một va chạm, là một xê dịch trong cảm xúc và cuộc sống của chính mình. Mỗi chuyến đi mang lại cho ta thêm hiểu biết, thêm những trải nghiệm mới trong tâm hồn và bạn biết không tôi vừa có một hành trình trong tâm tưởng đến với Trường Sa thân yêu. Thấy được vẻ đẹp tuyệt vời của thiên nhiên đất trời, sự tấp nập của những chuyến tàu, những khu vui chơi giải trí sầm uất, nhà cửa san sát nối tiếp nhau… hình ảnh người lính Hải quân chắc tay ung bảo vệ biển đảo quê hương… bất chợt ở đâu đó vang lên câu hát :

“Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả
Những chàng trai ra đảo đã quên mình
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi”

Đó không phải là một giấc mơ phải không các bạn ? Rồi một ngày không xa tôi, chúng ta sẽ đến với Trường Sa, với biển khơi! Sẽ đem hơi thở đất liền đến với biển đảo xa xôi, sẽ tạo dựng không chỉ cuộc sống thường dân giản dị mà là nét văn hóa bản sắc Việt Nam, xây dựng thế trận lòng dân trên biển. Để rồi xem thế lực nào, dân tộc nào gian ác nào có thể phá vỡ được nó ? Thanh niên Việt Nam quyết chí hoàn thành những tâm nguyện của thế hệ đi trước, hoàn thành khát vọng của chính tuổi trẻ chúng ta.

Trường Sa ơi ! Biển khơi ơi ! Ngàn đời sóng vỗ, ngàn đời giữ gìn !!!

http://thanhnienviet.vn/

Thứ Ba, 1 tháng 4, 2014

Ở lại Hà Nội, bao giờ mới đủ tiền mua nhà?

Phải an cư mới lập nghiệp, mình đã chán cái cảnh 12 năm ở trọ này lắm rồi. Mua nhà ư? Nếu không có sự hỗ trợ từ phía gia đình thì đúng là không thể, bạn cứ tính xem với thu nhập của bạn, sau bao năm thì bạn mua được nhà, giá nhà lúc đấy là bao nhiêu? 
Sống ở thành phố rất nhiều áp lực
Mình cũng hay lên mạng đọc báo, hay đọc mục tâm sự trên các báo. Nhưng quả thật đây là lần đầu tiên mình viết vào đây. Vì mình thấy tâm trạng của người yêu bạn giống mình quá. Mình sinh năm 1983, tốt nghiệp đại học năm 2006 với kết quả học tập đứng thứ 3 của khóa đó. Ra trường, mình ở lại trường luôn làm công tác giảng dạy, từ đó đến nay bên cạnh việc vật lộn kiếm sống, mình cũng đã học xong cao học với kết quả thủ khoa. Sắp học xong bằng đại học thứ 2 bên Bách Khoa. 

Có thể nói thời điểm vất vả nhất thì cũng đã qua, bây giờ là lúc mình càng có điều kiện hơn để kiếm sống. Nhưng quả thật với suy nghĩ của một người con trai đã từng tự lập sau 12 năm xa nhà (mình đi trọ học từ hồi lớp 10), mình thấy lựa chọn của người yêu bạn thật sáng suốt vì chính mình bây giờ cũng đang có suy nghĩ như vậy đấy. 


Con gái các bạn dễ lắm, ra trường, có công việc làm ổn định, nếu tốt số lấy một người chồng ở Hà Nội nữa, vậy là cuộc sống mở sang một trang khác, bố mẹ ở quê cũng mở mày mở mặt với hàng xóm. 


Nhưng con trai mình thì không thế được. Thứ nhất, là người đàn ông, không ai muốn sống nhờ vợ. Thứ hai, nếu là người có năng lực, ai chẳng muốn có địa vị, nhưng ở Hà Nội này, hoặc là phải con ông cháu cha, hoặc là phải có tiền và chịu khó đi quan hệ, hoặc là phải kiệt xuất hẳn lên như bạn chẳng hạn. Thứ ba, phải an cư mới lập nghiệp được. 


Mình đã chán cái cảnh 12 năm ở trọ này lắm rồi. Mua nhà ư? Nếu không có sự hỗ trợ từ phía gia đình thì đúng là không thể, bạn cứ tính xem với thu nhập của bạn, sau bao năm thì bạn mua được nhà, giá nhà lúc đấy là bao nhiêu? Còn chưa kể sau này con cái lớn, mọi thứ chi tiêu cũng tăng lên theo cấp số nhân. 


Ở quê thì 3 triệu một tháng là tạm đủ, nhưng ở Hà Nội phải hơn thế gấp nhiều lần. Bạn sẽ suốt ngày chạy theo đồng tiền như con thiêu thân thôi, lúc đó con cái bỏ bê, không sát sao được, liệu có tốt không? 


Bạn sợ về quê không có điều kiện? Bạn à, có tiền thì sống ở đâu cũng sướng hết. Khoảng cách giữa phố xá và nông thôn đang dần bị thu hẹp lại. Mới lại bây giờ đường xá cũng thuận tiện, cuối tuần 2 vợ chồng đánh ôtô cả nhà đi chơi chẳng thú vị lắm sao? 


Vậy nên, theo mình nếu bạn yêu anh ấy, bạn không thể sống thiếu anh ấy, không có anh ấy bạn không hạnh phúc, thì bạn nên hy sinh một chút mà chiều theo ý anh ấy. Còn nếu tình yêu đó chưa đủ mạnh, bạn vẫn còn mơ ước điều hơn thế nữa thì bạn hãy ở lại Hà Nội, rất có thể một cuộc sống đầy đủ đang chờ đón bạn phía trước, nhưng… cuộc sống đó không có anh ấy.

Sống ở thành phố rất nhiều áp lực  (Nguồn: vzone.vn)

Chia sẻ từ bạn quynh.hnue.hut@… 

Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Đưa tiễn Táo quân

Theo tục lệ cổ truyền, người Việt tin rằng, hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch, Táo Quân lại cưỡi cá chép bay về trời để trình báo mọi việc xảy ra trong gia đình với Ngọc Hoàng. Cho đến đêm Giao thừa Táo Quân mới trở lại trần gian để tiếp tục công việc coi sóc bếp lửa của mình.
Theo tục cổ truyền của người Việt thì Táo quân gồm hai ông và một bà, tượng trưng là 3 cỗ, "đầu rau" hay "chiếc kiềng 3 chân" ở nơi nhà bếp của người Việt ngày xưa.
Vào ngày 23 tháng Chạp, Táo quân sẽ lên thiên đình để báo cáo mọi việc lớn nhỏ trong nhà của gia chủ với Thượng đế (hay ông Trời).

Táo quân cũng còn gọi là Táo Công, là vị thần bảo vệ nơi gia đình mình cư ngụ và thường được thờ ở nơi nhà bếp, cho nên còn được gọi là Vua Bếp. Vị Táo quân quanh năm chỉ ở trong bếp, biết hết mọi chuyện trong nhà, cho nên để Vua Bếp "phù trợ" cho mình được nhiều điều may mắn trong năm mới, người ta thường làm lễ tiễn đưa ông Táo về chầu Trời rất trọng thể.
Đưa tiễn Táo quân
Lễ vật cúng Táo công gồm có: mũ ông công ba cỗ hay ba chiếc: hai mũ đàn ông và một mũ đàn bà. Mũ dành cho các ông Táo thì có hai cánh chuồn, mũ dành cho Táo bà không có cánh chuồn. Những mũ này được trang sức với các gương nhỏ hình tròn lóng lánh và những dây kim tuyến màu sắc sặc sỡ. Để giản tiện, cũng có khi người ta chỉ cúng tượng trưng một cỗ mũ ông công (có hai cánh chuồn) lại kèm theo một chiếc áo và một đôi hia bằng giấy. Màu sắc của mũ, áo hay hia ông công thay đổi hàng năm theo ngũ hành. Thí dụ:
Sự tích ông Táo
Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng nghèo phải bỏ nhau. Sau người vợ lấy chồng mới, còn người chồng cũ vẫn nghèo khó. Trong một lần đi xin ăn, tình cờ anh ta gặp lại người vợ cũ và được hậu đãi. Đúng lúc đó, người chồng mới về bắt gặp và sinh lòng nghi ngờ. Người vợ uất ức đâm đầu vào đống lửa chết, người chồng cũ cảm thương chết theo. Người chồng sau cũng nhảy vào lửa chết. Ngọc hoàng cảm kích phong cho ba người làm Táo quân - Vua Bếp. Vào ngày 23 tháng Chạp hàng năm, các gia đình thường mua hai mũ ông, một mũ bà và ba con cá chép để cúng với quan niệm rằng, Táo quân cưỡi cá chép về chầu trời, tâu với Ngọc hoàng mọi việc trong năm, cầu may mắn.
Theo NXB chính trị Quốc Gia

+ Năm hành kim thì dùng màu vàng
+ Năm hành mộc thì dùng màu trắng
+ Năm hành thủy thì dùng màu xanh
+ Năm hành hỏa thì dùng màu đỏ
+ Năm hành thổ thì dùng màu đen

Những đồ "vàng mã" này (mũ, áo, hia, và một số vàng thoi bằng giấy) sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo công.

Theo tục xưa, riêng đối với những nhà có trẻ con, người ta còn cúng Táo quân một con gà luộc. Gà luộc này phải thuộc loại gà cồ mới tập gáy (tức gà mới lớn) để ngụ ý nhờ Táo quân xin với Ngọc Hoàng Thượng Đế cho đứa trẻ sau này lớn lên có nhiều nghị lực và sinh khí hiên ngang như con gà cồ vậy!

Ngoài ra, để các ông và các bà Táo có phương tiện về chầu trời, ở miền Bắc người ta còn cúng một con cá chép hãy còn sống thả trong chậu nước, ngụ ý cá sẽ biến thành Rồng đưa ông Táo về trời. Con cá chép này sẽ được "phóng sinh" (thả ra ao hồ hay ra sông) sau khi cúng. Ở miền Trung, người ta cúng một con ngựa bằng giấy với yên, cương đầy đủ. Còn ở miền Nam thì giản dị hơn, chỉ cúng mũ, áo và đôi hia bằng giấy là đủ.

Tùy theo từng gia cảnh, ngoài các lễ vật chính kể trên, người ta hoặc làm lễ mặn (với xôi gà, chân giò luộc, các món nấu nấm, măng...) hay lễ chay (với trầu cau, hoa, quả, giấy vàng, giấy bạc...) để tiễn táo Công.

Theo Tuoitre

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

Hà Nội rơi nước mắt tiễn đưa Đại tướng

Trên các con phố Hà Nội, người dân tập trung từ tờ mờ sáng, có người chờ thâu đêm. Khi linh cữu Tướng Giáp đi qua, nhiều người không cầm được nước mắt.

Xếp hàng từ mờ sáng chờ tiễn biệt Đại tướng Võ Nguyên Giáp
7h45, từng tốp người chờ đợi hai bên nhà hát lớn đứng ngồi không yên. Cứ chốc chốc, họ lại ào lên khi nghe thấy ai đó thốt lên: "Xe đại tướng đến rồi kìa". Trên từng gương mặt từ cụ già đến các em thơ, ai cũng hồi hộp chờ mong giây phút được nhìn thấy Đại tướng lần cuối trước khi Người trở về đất mẹ.



8h, xe đưa đoàn chở linh cữu đại tướng xuất phát từ nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông qua Đại học Tổng hợp tiến thẳng về Nhà Hát Lớn. Không ai bảo ai, hai bên đường, ọi người đồng loạt đứng dậy, tay cầm hoa, tay lau nước mắt. 2 chị em Phương Linh đến từ trường tiểu học Dân lập Lê Quý Đôn và tiểu học Nguyễn Du ôm nhau nghẹn ngào. Linh kể, từ khi biết về Đại tướng, em đã khóc 4 lần. Lần đầu, lúc 6 tuổi, khi lần đầu tiên Linh nghe bà nội nói chuyện về tướng Giáp. Và 3 lần sau, khi biết tin cụ mất... lần nào, hễ nhắc đến tên cụ, Linh lại nức nở không cầm được lòng.
 
Đội thanh niên tình nguyện đang làm nhiệm vụ hàng rào cũng quỳ gối khi linh cữu đi qua.
Nữ cảnh sát giao thông nhòe nước mắt khi linh xa đi qua.
Một học viên an ninh đứng lẫn trong đám đông.
Em bé ngồi trên vai bố ở khu vực Cột Cờ.


Một chàng thanh niên bật khóc nức nở.








Khoảng 8h10 linh cữu Đại tướng đi qua Hồ Gươm. Người dân trật tự theo dõi. Sau khi xe đi qua, người dân ùa ra đường, một số vẫn cầm di ảnh tiễn theo Đại tướng, những người khác vẫn đứng lặng yên một góc đường.
Một phụ nữ thành kính dâng cao di ảnh trên trán.




vnexpress.net.

Thứ Bảy, 12 tháng 10, 2013

Vô cùng thương tiếc một vì sao sáng của dân tộc đã tắt

Những giọt nước mắt, sự thảng thốt... được thể hiện qua từng con chữ trên máy tính dường như không thể nói hết được niềm tiếc thương, kính trọng mà bạn đọc - người dân đất Việt, dành cho đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị tướng tài ba một đời vì dân vừa mãi mãi ra đi.
Đi tướng Võ Nguyên Giáp thăm đn Hai Bà Trưng, Hát Môn, Phúc Th (Hà Tây cũ); mt lão nông tng đĩa bánh trôi tượng trưng cho lòng kính trng ca dân làng đi vi người có công vi dân, vi nước - nh tư liu
TTO - Theo thông tin Tui Tr Online va nhn được, vào khong 18g chiu 4-10, Đi tướng Võ Nguyên Giáp đã t trn ti Quân y vin 108, hưởng th 103 tui.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25-8-1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình nhà nho nghèo.

Như hầu hết những thanh niên trí thức yêu nước thời đó, ông hăng hái hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên. Ông bị Pháp bắt giam và trưởng thành qua nhiều hoạt động bãi khóa, diễn thuyết, viết báo... tuyên truyền đấu tranh cho độc lập dân tộc

Huyền thoại mùa thu
Những cuộc gặp gỡ mùa thu bao giờ cũng mang đến những xúc cảm đặc biệt. Mùa của trời trong, nắng vàng, gió mát. Mùa của cách mạng và tri ân... Người lính già được sinh ra trong mùa thu và được trân trọng nhắc tên đầy thương mến vào mùa thu của dân tộc, đã ba năm nay đón ngày sinh của mình và ngày lễ lớn của dân tộc trên giường bệnh trong quân y viện. Nhưng chưa một ngày nào tên ông vắng bóng trong trí óc và trái tim của những đồng chí, đồng đội; vắng bóng trong những trang sách, những hình ảnh, bài ca; vắng bóng trong những câu chuyện của người trẻ về đất nước, chủ quyền, biên cương...

Và mỗi lần đồng đội, học trò, người thân ngồi lại với nhau vào mùa thu để nói với nhau về ông, những xúc cảm bao giờ cũng vẹn nguyên, tràn đầy. Người lính ấy, người thầy ấy đã thành huyền thoại từ khi còn đang sống: Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Người ta có thể tự tạo dựng huyền thoại cho mình. Nhưng thật khó mà gìn giữ huyền thoại ấy mỗi ngày, trong đời sống thường nhật, trong những quan hệ cụ thể với gia đình, bè bạn, cấp trên, cấp dưới, trong những biến động to nhỏ của thời cuộc, trong những niềm vui và nỗi đau rất con người.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp không tạo nên huyền thoại cho mình. Chiến công “lừng lẫy Điện Biên - chấn động địa cầu” đã khiến ông trở thành huyền thoại sống, thành một trong những thiên tài quân sự vĩ đại nhất của nhân loại. Nhưng nhân cách của ông, tác phong đời thường của ông, tình nghĩa thủy chung của ông với đồng đội, trí tuệ mẫn tiệp của ông trong xử trí công việc hằng ngày, thái độ đồng cảm của ông với những bức xúc của nhân dân, lo lắng của ông với những vấn đề sống còn của dân tộc... mới làm cho những huyền thoại về Võ Nguyên Giáp có sức sống lâu bền và mỗi ngày một sống động hơn với người đương thời và hậu thế.

Đại tá Trịnh Nguyên Huân, người trợ lý của ông đã hơn 30 năm, nói mà nước mắt tràn mi: “Tấm thiệp chúc mừng hội nghị khoa học về cải tiến dạy và học môn lịch sử cuối tuần trước ở Đà Nẵng là tự tay ông ký đấy. Biết tin có hội nghị về dạy lịch sử, ông mừng lắm. Ông quan tâm nhất là nói sự thật về lịch sử nước nhà cho thế hệ trẻ. Nên mệt thế mà ông vẫn ngồi dậy đòi gửi thiệp chúc mừng và ký tặng để gửi gắm tâm sự và niềm tin”.

Những cách thể hiện của huyền thoại quanh vị đại tướng cũng thật kỳ lạ: đó có thể là một tấm trướng thêu kỳ công 90 chữ “Tâm” mừng ông 90 tuổi của một phụ nữ đã làm bà ngoại, có thể là một cặp gà quê tự nuôi của một người lính nông dân, là dăm ký nếp của một người vợ lính bắt chồng đi xe đò mang đến tận nhà biếu đại tướng ăn tết...

Ông đã sống qua hai thế kỷ sóng gió của lịch sử dân tộc. Ông đã làm hết những gì mà một Con Người - viết hoa - có thể làm để không hổ thẹn với mùa thu lịch sử của dân tộc nhiều dông bão này. Trong buổi gặp gỡ của những người đã theo ông suốt 40, 50, 60, thậm chí 70 năm cuộc đời, có ai đó chợt thảng thốt với câu hỏi: “Chúng ta nhớ, nhưng liệu thế hệ trẻ có nhớ những gì ông đã làm, những gì ông đang canh cánh mà chưa làm được, những gì ông gửi gắm?”. Nhà sử học Dương Trung Quốc vừa trở về từ một cuộc trao giải “Người trẻ hát quốc ca” do chính những người trẻ phát động trên mạng Internet, mang theo câu trả lời: “Tất cả các bạn trẻ ấy đều biết hôm nay là ngày sinh Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Các bạn ấy nhờ tôi chúc mừng đại tướng và nói với các thế hệ tiền bối: các cụ cứ yên tâm, chúng cháu vẫn đang hát Quốc ca, và chúng cháu biết mình phải làm gì cho đất nước này”.

Và như thế, huyền thoại của mùa thu vẫn đẹp đẽ, lung linh trong ánh sáng đời thường.

THU HÀ
(Trích trong Huyền thoại mùa thu - Đăng trên Tuổi Trẻ ngày 26-8-2012)
Năm 1940, chàng trai Võ Nguyên Giáp đã gặp Hồ Chí Minh tại Trung Quốc và bắt đầu một tình đồng chí, tình thầy trò cảm động và sâu bền.

Ngày 22-12-1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, Võ Nguyên Giáp thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân với 34 chiến sỹ - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cách mạng thành công, ông được Chủ tịch Hồ Chí Minh cử giữ chức Bộ trưởng Nội Vụ, kiêm Bộ phó Bộ Quốc phòng trong Chính phủ lâm thời, sau đó là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong chính phủ kháng chiến.

Năm 1948, sau các chiến thắng của các chiến dịch đầu tiên trong kháng chiến, ông được Hồ Chủ tịch phong hàm đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam và là vị đại tướng duy nhất cho đến hết kháng chiến chống Pháp.

Từ một sinh viên Luật, một nhà giáo dạy sử, một nhà báo, ông trở thành Tổng tư lệnh tối cao của quân đội một quốc gia mà chưa hề trải qua một cấp hàm nào, vào năm mới 37 tuổi.

Đỉnh cao của thiên tài quân sự Võ Nguyên Giáp là ở chiến dịch Điên Biên Phủ, ông đã khéo léo sử dụng đường lối chiến tranh nhân dân, tạo thế hậu cần, thay đổi chiến thuật để chỉ với 4 đại đoàn bộ binh và 1 đại đoàn sơn pháo đã đánh tan cả tập đoàn cứ điểm của quân đội Pháp với trang bị khí tài quân sự hiện đại nhất lúc bấy giờ.

Ngay sau khi Đại tướng qua đời, các hãng thông tấn và báo chí nước ngoài đã có bài viết về Đại tướng, họ gọi ông là vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự.

AFP gọi đại tướng Võ Nguyên Giáp là “thiên tài quân sự” và là “người hạ gục phương Tây” trong bản tin về việc đại tướng từ trần. AFP nói đại tướng “được coi là một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại nhất và là kiến trúc sư cho những chiến thắng vang dội của VN trước Pháp và Mỹ.”

Nhà báo Stanley Karnow khi viết về ông nói tài năng chiến lược đặt ông vào “ngôi đền của những nhà lãnh đạo quân sự vĩ đại” nhu Wellington, Ulysses S. Grant hay Douglas MacArthur. “Nhưng khác với họ, những chiến tích của ông là bởi nhờ tài năng thiên bẩm hơn là nhờ đào tạo chính quy.”

AFP trích lại câu nói của tổng thống Nam Phi Thabo Mbeki hồi năm 2007, “Khi chúng tôi trưởng thành trong cuộc đấu tranh của mình, tướng Giáp chính là một trong những người anh hùng dân tộc của chúng tôi.”

Bản tin Reuters thì gọi đại tướng là bộ óc quân sự của VN và là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của VN trong thế kỉ 20. Bản tin nói ông “được các sử gia xếp vào cùng với những nhà quân sự vĩ đại như Montgomery, Rommel và MacArthur.”

Reuters nhắc lại chuyện tướng Giáp từng ký “Vị tướng của hoà bình” khi được một người nhờ ký sách tại văn phòng LHQ ở Geneva.

AP gọi đại tướng là “vị tướng huyền thoại của VN” và nhắc lại chiến thắng “không tưởng” ở Điện Biên Phủ - trận chiến kinh điển đến giờ vẫn được dạy tại các trường quân sự, “không chỉ đem lại độc lập cho VN mà còn đẩy nhanh quá trình sụp đổ của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương và quốc tế.”

AP trích lời đại tướng năm 2005 nói, “không có cuộc chiến giải phóng dân tộc nào lại dữ dội và gây ra nhiều tổn thất” như cuộc chiến ở VN. “Nhưng chúng tôi vẫn chiến đấu vì với VN, không có gì quý hơn độc lập và tự do.”

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

Bao giờ quê mình thôi bão lũ?

vnexpress.net- M ngâm chân trong dòng nước lnh ngt c hong li nm xôi khô phơi t tháng trước cho c nhà ăn vì các th đu chìm trong bin nước. Ba ngâm người trong nước mt ngày mt đêm, nước bt đu rút dn, phi 4 ngày sau nhà mi hết ngp.

Những ngày này, Sài Gòn mưa nhiều hơn, toàn những trận mưa lớn. Tan tầm, váy ngắn, chân trần chạy xe qua những con đường bấp bênh nước, không dưng thấy nhớ những trận lụt quê nhà. Lâu lắm rồi… Gần 10 năm gắn bó với thành phố này nhưng trong tâm trí tôi, Sài Gòn vẫn chỉ là một "quán trọ" bởi những yêu thương đã dành hết cho Huế, nên mưa Sài Gòn chỉ làm tôi nhớ Huế nhiều hơn.
Mấy hôm nay nghe đài báo miền Trung đang bão, lại thấy lòng thương nhớ khôn nguôi, bởi với những đứa trẻ sinh ra, lớn lên với Huế, thì mưa bão là những ký ức không thể xóa nhòa. Tôi đã lớn lên bên Huế, đi qua không biết bao nhiêu ngày mưa bão, nên vừa nhớ vừa yêu thương da diết.

Nhớ những khi nghe đài báo bão, cả nhà lại tất bật chuẩn bị đối phó, mẹ đi mua thêm gạo, mì gói, nước tương (vì trời lạnh mà được ăn cơm nóng với nước tương thì ngon cực). Ba và anh trai tranh thủ leo lên mái tôn chèn thêm bao cát để bão có về tôn không bay mất. Chị mua thêm củi chất cao trên chạn bếp, mua đèn, dầu vì mưa lũ cả thành phố sẽ mất điện. Tôi và mấy đứa em nhỏ gom giày dép và những vật dụng trong nhà cho sẵn vào bao vì sợ khuya nước lớn đồ đạc trôi mất. Không khí chuẩn bị cho lụt ở những nhà nghèo thường tất bật hơn vì chỉ khi mưa bão về, nhà nhà mới mua thêm đồ dự trữ.

Huế cứ mưa to thể nào "Đập đá" cũng tràn, mà đã tràn là lụt, nên con đập nhỏ nối từ Vĩ Dạ lên phố, chia một bên sông Hương, một bên sông Như Ý ấy như là cột mốc báo hiệu để người Huế biết sắp lụt. Huế lụt, người lớn nẫu ruột gan vì phải lo đủ thứ trong khi trẻ con háo hức vô cùng, bởi lụt không phải đi học, không phải làm bài tập, mà lại còn được nghịch nước, được kết bè chuối bơi khắp sân, băng qua những cánh đồng ngập lênh láng, được thả lưới bắt cá, bắt tôm...

Tôi đã trải qua những ngày lụt khi còn bé tí với những trò nghịch ngợm như thế. Lớn lên một tí bớt nghịch hơn nhưng vẫn rất thích lụt vì khi nghe tin đập đá tràn trường sẽ cho nghỉ học, nghĩa là tha hồ tụm năm tụm bảy xắn quần lội nước. Chỉ đến "cái lụt lịch sử" năm 1999 mới bắt đầu biết sợ, năm đó Huế lụt lớn, nước dâng nhanh và cao kinh khủng. Trong 2 ngày đêm mà lượng mưa bằng cả năm cộng lại, đó cũng là trận lụt kéo dài nhất. Người ta gọi là trận "đại hồng thủy", trận lụt mà những ai từng chứng kiến đều nhớ mãi.

Hồi đó, nhà tôi chỉ là nhà tranh vách đất, qua một đêm nước ngập lên gần tới nóc, đồ đạc trong nhà trôi nổi khắp nơi. Ba kê hai chiếc giường chồng lên nhau rồi kê thêm cái bàn học cho mấy chị em ngồi lên khỏi ướt, vì chiếc bàn chỉ đủ chỗ cho 4 chị em ngồi nên ba đứng trên giường, ngâm mình trong nước, thi thoảng bơi qua bơi lại, vừa kê bàn thờ ông bà lên bậc cao hơn, vừa nhặt nhạnh những đồ đạc trôi lềnh bềnh. Mẹ ngâm chân trong dòng nước lạnh ngắt cố hong lại nắm xôi khô phơi từ tháng trước cho cả nhà ăn vì bao nhiêu gạo, cơm, mắm muối đều chìm trong biển nước.

Ngoài trời mưa gió vẫn thét gào, trong nhà chỉ mỗi ngọn đèn đầu và bếp lửa cháy nhá nhem khói cay xè mắt vì củi thấm ướt nên không cháy nổi. Ba ngâm người trong nước một ngày một đêm, nước bắt đầu rút dần, phải 4 ngày sau nhà mới hết ngập. Sáng ngày sau hôm nước rút, chị tôi vừa lấy chồng tháng trước cùng anh rể lội về nhà, nhìn thấy cả nhà, chị khóc nức nở, bảo hai ngày nay nóng ruột nóng gan mà không thể về được. Chị lo ba mẹ và mấy đứa em nhỏ gặp chuyện chẳng lành nên khi nước bắt đầu rút là đi ngay dù khu nhà tôi nước vẫn còn ngập cao tới bụng.

Chị gái ở Sài Gòn cũng thấp thỏm lo âu khi báo đài đưa tin Huế bị cô lập, chìm trong biển nước mà đường dây liên lạc đứt nên mấy chục lần gọi điện không thể được. Cả nhà thở phào và thầm cảm ơn trời đất vì qua cơn đại nạn vẫn được bình an. Có nhiều người phải mất người thân vào năm đó, người mất hết nhà cửa, tài sản. Nếu năm đó, nước dâng cao thêm 30-50 cm nữa thôi, có lẽ tôi chẳng có cơ hội ngồi đây hồi tưởng.

Tôi vào Sài Gòn, thành phố có hai mùa mưa nắng và gần như không có bão lũ bao giờ, mỗi năm về một hoặc 2 lần, thường vào dịp Tết hoặc giữa năm nên không còn được "lội lụt". Thi thoảng em gái gọi điện vào bảo "Nước vô nhà rồi đó", là biết “ngoài mình" đang lụt. Mỗi lần nghe tin bão về miền Trung, lòng lại thấp thỏm không yên, bao giờ quê mình thôi bão lũ?

Hùng

Thứ Sáu, 31 tháng 5, 2013

Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng tại Đối thoại Shangri-La

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa có bài phát biểu dẫn đề tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 12 ở Singapore, trong đó nhấn mạnh việc xây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng của châu Á - Thái Bình Dương.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Đối thoại Shangri-La lần thứ 12
Toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

Thưa Ngài Thủ tướng Lý Hiển Long,
Thưa Tiến sĩ John Chipman,
Thưa quý vị và các bạn,
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ngài Lý Hiển Long, Thủ tướng nước chủ nhà Singapore, Tiến sĩ John Chipman và Ban Tổ chức Đối thoại Shangri-La 12 đã mời tôi dự và phát biểu khai mạc diễn đàn quan trọng này. Sau 12 năm kể từ khi ra đời, Đối thoại Shangri-La thực sự đã trở thành một trong những diễn đàn đối thoại về hợp tác an ninh thực chất và hữu ích nhất ở khu vực. Tôi tin rằng sự có mặt của đông đảo các quan chức chính phủ, các nhà lãnh đạo quân đội, các học giả có uy tín và toàn thể quý vị tại đây thể hiện sự quan tâm, nỗ lực cùng nhau gìn giữ hòa bình và an ninh cho khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong một thế giới đầy biến động.

Thưa quý vị và các bạn,
Ngôn ngữ và cách thể hiện dù có khác nhau, nhưng chắc chúng ta đều đồng ý với nhau: nếu không có lòng tin thì không thể thành công, việc càng khó càng cần có niềm tin. Việt Nam chúng tôi có câu thành ngữ "mất lòng tin là mất tất cả". Lòng tin là khởi nguồn của mọi quan hệ hữu nghị, hợp tác; là liều thuốc hiệu nghiệm để ngăn ngừa những toan tính có thể gây ra nguy cơ xung đột. Lòng tin cần được nâng niu, vun đắp không ngừng bằng những hành động cụ thể, nhất quán, phù hợp với chuẩn mực chung và với thái độ chân thành.

Trong thế kỷ 20, Đông Nam Á nói riêng và châu Á - Thái Bình Dương nói chung vốn là chiến trường ác liệt, bị chia rẽ sâu sắc trong nhiều thập kỷ. Có thể nói cả khu vực này luôn cháy bỏng khát vọng hòa bình. Muốn có hòa bình, phát triển, thịnh vượng thì phải tăng cường xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược. Nói cách khác, chúng ta cần cùng nhau chung tay xây dựng lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng của châu Á - Thái Bình Dương. Đó cũng là chủ đề mà tôi muốn chia sẻ với quý vị và các bạn tại diễn đàn hôm nay.

Trước hết, Việt Nam chúng tôi có niềm tin sâu sắc vào tương lai tươi sáng trong hợp tác phát triển của khu vực, nhưng với xu thế tăng cường cạnh tranh và can dự - nhất là từ các nước lớn, thì bên cạnh những mặt tích cực cũng tiềm ẩn những rủi ro tiêu cực mà chúng ta cần phải cùng nhau chủ động ngăn ngừa.

Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động và là nơi tập trung ba nền kinh tế lớn nhất thế giới và nhiều nền kinh tế mới nổi. Xu thế hợp tác, liên kết đa tầng nấc, đa lĩnh vực đang diễn ra hết sức sôi động và ngày càng thể hiện là xu thế chủ đạo. Điều này là cơ hội hết sức lạc quan cho tất cả chúng ta.

Tuy nhiên, nhìn lại bức tranh toàn cảnh khu vực trong những năm qua, chúng ta cũng không khỏi quan ngại trước những nguy cơ và thách thức ngày càng lớn đối với hòa bình và an ninh.
Cạnh tranh và can dự vốn là điều bình thường trong quá trình hợp tác và phát triển. Nhưng nếu sự cạnh tranh và can dự đó mang những toan tính chỉ cho riêng mình, bất bình đẳng, trái với luật pháp quốc tế, thiếu minh bạch thì không thể củng cố lòng tin chiến lược, dễ dẫn tới chia rẽ, nghi kỵ và nguy cơ kiềm chế lẫn nhau, ảnh hưởng tiêu cực tới hòa bình, hợp tác và phát triển.

Những diễn biến khó lường trên bán đảo Triều Tiên; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ từ biển Hoa Đông đến Biển Đông đang diễn biến rất phức tạp, đe dọa hòa bình và an ninh khu vực, trước hết là an ninh, an toàn và tự do hàng hải đang gây quan ngại sâu sắc đối với cả cộng đồng quốc tế. Đâu đó đã có những biểu hiện đề cao sức mạnh đơn phương, những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.

Tôi muốn lưu ý thêm rằng lưu thông trên biển chiếm tỷ trọng và có ý nghĩa ngày càng lớn. Theo nhiều dự báo, sẽ có trên ba phần tư khối lượng hàng hóa thương mại toàn cầu được vận chuyển bằng đường biển và hai phần ba số đó đi qua Biển Đông. Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường.

Trong khi đó, các nguy cơ xung đột tôn giáo, sắc tộc, chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, ly khai, bạo loạn, khủng bố, an ninh mạng… vẫn hiện hữu. Những thách thức mang tính toàn cầu như biến đổi khí hậu, nước biển dâng; dịch bệnh; nguồn nước và lợi ích giữa các quốc gia thượng nguồn, hạ nguồn của các con sông chung… ngày càng trở nên gay gắt.

Có thể nhận thấy những thách thức và nguy cơ xung đột là không thể xem thường. Mọi người chúng ta đều hiểu, nếu để xảy ra mất ổn định, nhất là xung đột quân sự, nhìn tổng thể thì sẽ không có kẻ thắng người thua - mà tất cả cùng thua. Vì vậy, cần khẳng định rằng, cùng nhau xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, thịnh vượng là lợi ích chung của tất cả chúng ta. Đối với Việt Nam chúng tôi, lòng tin chiến lược còn được hiểu trên hết là sự thực tâm và chân thành.

Thứ hai, để xây dựng lòng tin chiến lược, cần tuân thủ luật pháp quốc tế, đề cao trách nhiệm của các quốc gia - nhất là các nước lớn và nâng cao hiệu quả thực thi của các cơ chế hợp tác an ninh đa phương.

Trong lịch sử thế giới, nhiều dân tộc đã phải gánh chịu những mất mát không gì bù đắp được khi là nạn nhân của tham vọng cường quyền, của xung đột, chiến tranh. Trong thế giới văn minh ngày nay, Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế và các nguyên tắc, chuẩn mực ứng xử chung đã trở thành giá trị của toàn nhân loại cần phải được tôn trọng. Đây cũng là điều kiện tiên quyết để xây dựng lòng tin chiến lược.

Mỗi quốc gia luôn phải là một thành viên có trách nhiệm đối với hòa bình và an ninh chung. Các quốc gia, dù lớn hay nhỏ cần có quan hệ bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và cao hơn là có lòng tin chiến lược vào nhau. Các nước lớn có vai trò và có thể đóng góp nhiều hơn, đồng thời có trách nhiệm lớn hơn trong việc tạo dựng và củng cố lòng tin chiến lược. Mặt khác, tiếng nói đúng đắn cũng như sáng kiến hữu ích không phụ thuộc là của nước lớn hay nước nhỏ. Nguyên tắc hợp tác, đối thoại bình đẳng, cởi mở trong ASEAN, các diễn đàn do ASEAN khởi xướng và ngay Đối thoại Shangri-La của chúng ta cũng được hình thành và duy trì trên cơ sở tư duy đó.

Tôi hoàn toàn chia sẻ quan điểm của ngài Susilo Bambang Yudhoyono, Tổng thống nước Cộng hòa Indonesia, tại diễn đàn này năm ngoái là các nước vừa và nhỏ có thể gắn kết cùng các nước lớn vào một cấu trúc bền vững ở khu vực. Tôi cũng đồng tình với ý kiến của Ngài Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long trong bài phát biểu tại Bắc Kinh tháng 9/2012 cho rằng sự hợp tác tin cậy và trách nhiệm giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ đóng góp tích cực cho lợi ích chung của khu vực. Chúng ta đều hiểu rằng châu Á - Thái Bình Dương đủ rộng cho tất cả các nước trong và ngoài khu vực cùng hợp tác và chia sẻ lợi ích. Tương lai của châu Á - Thái Bình Dương đã và sẽ tiếp tục được tạo dựng bởi vai trò và sự tương tác của tất cả các quốc gia trong khu vực và cả thế giới, nhất là các nước lớn và chắc chắn trong đó không thể thiếu vai trò của ASEAN.
Tôi tin rằng các nước trong khu vực đều không phản đối can dự chiến lược của các nước ngoài khu vực nếu sự can dự đó nhằm tăng cường hợp tác vì hòa bình, ổn định và phát triển. Chúng ta có thể kỳ vọng nhiều hơn vào vai trò của các nước lớn, nhất là Mỹ và Trung Quốc, hai cường quốc có vai trò và trách nhiệm lớn nhất (tôi xin nhấn mạnh là lớn nhất) đối với tương lai quan hệ của chính mình cũng như của cả khu vực và thế giới. Điều quan trọng là sự kỳ vọng đó cần được củng cố bằng lòng tin chiến lược và lòng tin chiến lược cần được thể hiện thông qua những hành động cụ thể mang tính xây dựng của các quốc gia này.

Chúng ta đặc biệt coi trọng vai trò của một nước Trung Hoa đang trỗi dậy mạnh mẽ và của Mỹ - một cường quốc Thái Bình Dương. Chúng ta trông đợi và ủng hộ Mỹ và Trung Quốc khi mà các chiến lược, các việc làm của hai cường quốc này tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền của các quốc gia, vừa đem lại lợi ích cho chính mình, đồng thời đóng góp thiết thực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng chung.

Tôi muốn nhấn mạnh thêm là, các cơ chế hợp tác hiện có trong khu vực như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM )… cũng như Đối thoại Shangri-La đã tạo ra nhiều cơ hội để đẩy mạnh hợp tác an ninh đa phương và tìm giải pháp cho những thách thức đang đặt ra. Nhưng có thể nói rằng, vẫn còn thiếu – hay ít nhất là chưa đủ - lòng tin chiến lược trong việc thực thi các cơ chế đó. Điều quan trọng trước hết là phải xây dựng sự tin cậy lẫn nhau trước các thử thách, các tác động và trong tăng cường hợp tác cụ thể trên các lĩnh vực, các tầng nấc, cả song phương và đa phương. Một khi có đủ lòng tin chiến lược, hiệu quả thực thi của các cơ chế hiện có sẽ được nâng lên và chúng ta có thể đẩy nhanh, mở rộng hợp tác, đi đến giải pháp về mọi vấn đề, cho dù là nhạy cảm và khó khăn nhất.

Thứ ba, nói đến hòa bình, ổn định, hợp tác, thịnh vượng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, chúng ta không thể không nói đến một ASEAN đồng thuận, đoàn kết và với vai trò trung tâm trong nhiều cơ chế hợp tác đa phương.

Khó có thể hình dung được một Đông Nam Á chia rẽ, xung đột trong Chiến tranh Lạnh lại có thể trở thành một cộng đồng các quốc gia thống nhất trong đa dạng và đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc đang định hình ở khu vực như ASEAN ngày nay. Sự tham gia của Việt Nam vào ASEAN năm 1995 đánh dấu thời kỳ phát triển mới của ASEAN, tiến tới hình thành một ngôi nhà chungcủa tất cả các quốc gia Đông Nam Á đúng với tên gọi của mình. Thành công của ASEAN là thành quả của cả quá trình kiên trì xây dựng lòng tin và văn hóa đối thoại, hợp tác cũng như ý thức trách nhiệm chia sẻ vận mệnh chung giữa các nước Đông Nam Á.

ASEAN tự hào là một hình mẫu của nguyên tắc đồng thuận và lòng tin vào nhau trong các quyết định của mình. Đó là nền tảng tạo sự bình đẳng giữa các thành viên cho dù là một Indonesia với dân số gần một phần tư tỷ người và một Brunei với dân số chưa đến nửa triệu người. Đó cũng là cơ sở để các nước ngoài khu vực gửi gắm lòng tin vào ASEAN với tư cách là “người trung gian thực tâm”trong vai trò dẫn dắt nhiều cơ chế hợp tác khu vực.

Với tư duy cùng chia sẻ lợi ích, không phải “kẻ được – người mất”, việc mở rộng Cấp cao Đông Á (EAS) mời Nga và Mỹ tham gia, tiến trình ADMM đã được hiện thực hóa tại Việt Nam năm 2010 và thành công của EAS, ARF, ADMM những năm tiếp theo đã củng cố hơn nữa nền tảng cho một cấu trúc khu vực với ASEAN đóng vai trò trung tâm, đem lại niềm tin vào tiến trình hợp tác an ninh đa phương của khu vực này.

Tôi cũng muốn đề cập trường hợp của Myanmar như một ví dụ sinh động về kết quả của việc kiên trì đối thoại trên cơ sở xây dựng và củng cố lòng tin, tôn trọng các lợi ích chính đáng của nhau, mở ra một tương lai tươi sáng không chỉ cho Myanmar mà cho cả khu vực chúng ta.

Đã có những bài học sâu sắc về giá trị nền tảng của nguyên tắc đồng thuận, thống nhất của ASEAN trong việc duy trì quan hệ bình đẳng, cùng có lợi với các nước đối tác và phát huy vai trò chủ động của ASEAN trong những vấn đề chiến lược của khu vực. ASEAN chỉ mạnh và phát huy được vai trò của mình khi là một khối đoàn kết thống nhất. Một ASEAN thiếu thống nhất sẽ tự đánh mất vị thế và không có lợi cho bất cứ một ai, kể cả các nước ASEAN và các nước đối tác. Chúng ta cần một ASEAN đoàn kết, vững mạnh, hợp tác hiệu quả với tất cả các nước để chung tay vun đắp hòa bình và thịnh vượng ở khu vực, chứ không phải là một ASEAN mà các quốc gia thành viên buộc phải lựa chọn đứng về bên này hay bên kia vì lợi ích của riêng mình trong mối quan hệ với các nước lớn. Trách nhiệm của chúng ta là nhân thêm niềm tin trong giải quyết các vấn đề, trong tăng cường hợp tác cùng có lợi, kết hợp hài hòa lợi ích của quốc gia mình với lợi ích của quốc gia khác và của cả khu vực.

Việt Nam cùng các nước ASEAN luôn mong muốn các nước - đặc biệt là các nước lớn, ủng hộ vai trò trung tâm, nguyên tắc đồng thuận và sự đoàn kết thống nhất của cộng đồng ASEAN.
Trở lại vấn đề Biển Đông, ASEAN và Trung Quốc đã cùng nhau vượt qua một chặng đường khá dài và cũng không ít khó khăn để ra được Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) tại Hội nghị cấp cao ASEAN ở Phnompenh năm 2002. Nhân kỷ niệm 10 năm ký và thực hiện DOC, các bên đã thống nhất nỗ lực tiến tới Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). ASEAN và Trung Quốc cần đề cao trách nhiệm, cùng nhau củng cố lòng tin chiến lược, trước hết là thực hiện nghiêm túc DOC, nỗ lực hơn nữa để sớm có Bộ quy tắc ứng xử (COC) phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật biển 1982 (UNCLOS).

Chúng tôi cho rằng, ASEAN và các nước đối tác có thể cùng nhau xây dựng một cơ chế khả thi để bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải trong khu vực. Làm được như vậy sẽ không chỉ góp phần đảm bảo an ninh, an toàn, tự do hàng hải và tạo điều kiện để giải quyết các tranh chấp, mà còn khẳng định những nguyên tắc cơ bản trong việc gìn giữ hòa bình, tăng cường hợp tác, phát triển của thế giới đương đại.

Đối với các vấn đề an ninh phi truyền thống và các thách thức khác – trong đó có an ninh nguồn nước trên các dòng sông chung, bằng việc xây dựng lòng tin chiến lược, tăng cường hợp tác, hài hòa lợi ích quốc gia với lợi ích chung, tôi tin rằng chúng ta cũng sẽ đạt được những thành công, đóng góp thiết thực vào hòa bình, hợp tác, phát triển của khu vực.

Thưa quý vị và các bạn,
Trong suốt lịch sử mấy nghìn năm, Việt Nam đã chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra. Việt Nam luôn khao khát hòa bình và mong muốn đóng góp vào việc củng cố hòa bình, tăng cường hữu nghị, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới. Để có một nền hòa bình thực sự và bền vững, thì độc lập, chủ quyền của các quốc gia dù lớn hay nhỏ cần phải được tôn trọng; những khác biệt về lợi ích, văn hóa… cần được đối thoại cởi mở trên tinh thần xây dựng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
Chúng ta không quên, nhưng cần khép lại quá khứ để hướng tới tương lai. Với truyền thống hòa hiếu, Việt Nam luôn mong muốn cùng các nước xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì hòa bình, hợp tác, phát triển trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.
Việt Nam kiên định nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các quốc gia và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Việt Nam không ngừng nỗ lực làm sâu sắc thêm và xây dựng quan hệ đối tác chiến lược, đối tác hợp tác cùng có lợi với các quốc gia. Chúng tôi mong muốn thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các nước thành viên thường trực Hội đồng Bảo an LHQ một khi nguyên tắc độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tôn trọng lẫn nhau, hợp tác bình đẳng cùng có lợi được cam kết và nghiêm túc thực hiện.
Nhân diễn đàn quan trọng này, tôi trân trọng thông báo, Việt Nam đã quyết định tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp quốc, trước hết là trong các lĩnh vực công binh, quân y, quan sát viên quân sự.
Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Việt Nam không là đồng minh quân sự của nước nào và không để nước ngoài nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam không liên minh với nước này để chống lại nước khác.
Những năm qua, việc duy trì tăng trưởng kinh tế khá cao đã tạo điều kiện cho Việt Nam tăng ngân sách quốc phòng ở mức hợp lý. Việc hiện đại hóa quân đội của Việt Nam chỉ nhằm tự vệ, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, không nhằm vào bất cứ quốc gia nào.
Đối với các nguy cơ và thách thức về an ninh khu vực đang hiện hữu như bán đảo Triều Tiên, biển Hoa Đông, Biển Đông… Việt Nam trước sau như một kiên trì nguyên tắc giải quyết bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, tôn trọng độc lập chủ quyền và lợi ích chính đáng của nhau. Các bên liên quan đều phải kiềm chế, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực.
Một lần nữa, Việt Nam khẳng định tuân thủ nhất quán Tuyên bố nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông; nỗ lực làm hết sức mình cùng ASEAN và Trung Quốc nghiêm túc thực hiện DOC và sớm đạt được COC. Là quốc gia ven biển, Việt Nam khẳng định và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình theo đúng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước LHQ về Luật Biển 1982.

Thưa quý vị và các bạn,
Hòa bình, hợp tác và phát triển là lợi ích, là nguyện vọng tha thiết, là tương lai chung của các quốc gia, các dân tộc. Trên tinh thần cởi mở của Đối thoại Shangri-La, tôi kêu gọi tất cả chúng ta bằng những hành động cụ thể hãy cùng chung tay xây dựng và củng cố lòng tin chiến lược vì một châu Á - Thái Bình Dương hòa bình, hợp tác, thịnh vượng.
Xin cảm ơn quý vị và các bạn.

Theo Chinhphu.vn

Bài đăng phổ biến