Hiển thị các bài đăng có nhãn Datnuocconnguoi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Datnuocconnguoi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Tôi yêu Thái Bình quê tôi

"Người ta có thể có nhiều nơi để đi nhưng chỉ có một nơi để trở về!"
Trong tận sâu thẳm mỗi con người, quê hương vẫn là nơi chôn rau cắt rốn. Người ta cũng không được phép chối bỏ, lãng quên quê hương dù có nghèo khổ. Quên sao được khi tôi được sinh ra từ gốc lúa bờ tre hồn hậu, quên sao được khi đó là dải đất nặng ân tình, màu mỡ phù sa và hiển hách những chiến công, những con người làm nên lịch sử.

Thái Bình quê tôi đó, bao đời cây lúa nuôi lớn những tâm hồn, những trái tim hồn hậu, thủy chung. Bao lần trở về, cảm xúc trong tôi luôn dâng tràn khi đi qua những cánh đồng bạt ngàn lúa đang thì con gái dậy mùi thơm, hay bến nước, gốc đa, sân đình.Mọi người thường bảo tôi sao giản dị lạ thường. Tôi trả lời anh vì tôi sinh ra ở Thái Bình quê lúa mộc mạc và tôi lớn lên bằng hạt lúa mẹ trồng - lúa Thái Bình.

Lúc bé tôi chẳng biết đích xác cây lúa có tự bao giờ ở quê tôi. Nghe mẹ kể và kí ức còn sót lại của một con bé bốn tuổi thì căn nhà đắp đất nhỏ bé của bố mẹ tôi nằm bên đồng lúa bạt ngàn. Cuộc sống người dân gắn liền với cây lúa, đến cái nhà đắp đất cũng trộn từ rơm rạ lúa. Mẹ mang thai tôi vẫn đi nhổ mạ, đi cấy cho đến khi gặt lúa gánh về nhà mẹ chuyển dạ, gánh lúa oằn theo cơn đau của mẹ.

Lớn lên một chút, thiên đường của bọn trẻ nhỏ quê tôi là bồ thóc lúc chơi ú tim hay những vệt cỏ xanh ngan ngắt ven đồng lúa. Tôi hạnh phúc hơn nhiều đứa trẻ, không phải đi chăn trâu cắt cỏ. mỗi chiều học xong tôi theo chân người chị họ ra đồng bắt cào cào, muồm muỗm. Hai chị em với hai cái vỉ trên tay, tay kia cầm chai thủy tinh để đựng. Cào cào là món ăn cung cấp chất đạm cho đa phần những gia đình nghèo quê tôi. Chạy đuổi chán và khi cũng đã được kha khá, mệt mỏi, hai chị em nằm ệch ra bờ lúa thở hổn hển. Những tháng ngày tuổi thơ như thế đã giúp tôi phân biệt được mùi vị đặc trưng mỗi thời kì cây lúa: lúa đương thì con gái hương tinh khiết, thoang thoảng gió đưa, lúa chín vàng lại nồng nàn, ngào ngạt.

Lớn thêm chút nữa, bố kể chuyện cô tích Lang Liêu làm bánh chưng bánh giày dâng vua, tôi biết thêm rằng cây lúa có tự ngày xửa ngày xưa nhưng xưa như thế nào tôi không rõ. Tôi chỉ biết hạt lúa đơn sơ, bình dị đã làm nên điều kì diệu cho hoàng tử Lang Liêu.

Qua năm tháng, nước con sông Hồng vẫn đỏ nặng phù sa bồi đắp đôi bờ. Và tôi lớn lên, được học lịch sử tối biết nhều hơn về vùng đất lúa Thái Bình, lòng dấy lên niềm tự hào quê lúa, và càng hãnh diện vì được là một người con gái của quê lúa thân yêu.

Thái Bình tự ngàn xưa cho đến bây giờ vẫn là vùng đất lúa, đặc những lúa, mênh mông những lúa. Nên dân quê tôi nghèo dù đất nặng phù sa. Có những con người chưa bao giờ rời khỏi thửa ruộng con con mà bước ra ngoài lũy tre làng. Cái nghèo cứ đeo bám theo các nếp nhăn hằn trên khuôn mặt mỗi người. Dẫu thế muôn người vẫn thủy chung cùng lúa.

Người ta cũng thường bảo chỉ có người phụ đất chứ đất không bao giờ phụ người. Đất lúa Thái Bình là vùng đất đã trải qua bao thăng trầm, biến cố lịch sử, bao đời cây lúa nuôi dưỡng, sản sinh ra những nhân tài hào kiệt.

Đó là một Trần Thủ Độ có công sáng lập triều Trần. Đó là một Lê Quý Đôn nhà bác học Việt Nam. Đó là một Phạm Tuân anh hùng người Việt Nam đầu tiên bay vào vũ trụ và có công đầu trong bắn rơi B52 - pháo đài bay của Mỹ. Hay là một Bùi Quang Thận - người đầu tiên cắm lá cờ trên nóc Dinh Độc lập ngày toàn thắng… Và còn, nhiều nhiều nữa những cái tên như thế, họ đã được sinh ra từ quê lúa và được nuôi dưỡng bằng hạt lúa.

Người ta sống bên lúa chết vùi chân lúa nên yêu lúa như yêu máu thịt. Chỉ có những ai từng dầm mình cấy lúa trong cái rét cắt da giêng hai dưới mưa phùn mới biết yêu quý hơn thành phẩm của lúa là hạt gạo. Bưng bát cơm nóng hổi mà nghe vị mặn của mồ hôi dù mùi cơm thơm nồng. Bởi biết người yêu lúa nên lúa chẳng phụ lòng, cứ mơn mởn, cứ xanh tốt, cứ vàng ươm chuỗi hạt cho mùa bội thu. Mặc cho bom rơi đạn nổ từ hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mĩ, lúa gục xuống lại vươn thẳng lên hơn trước. Đất anh hùng sinh những người con anh hùng, sức sống mãnh liệt nên cây lúa trên mảnh đất ấy, từ những bàn tay con người ấy cũng có sức sống mãnh liệt kia. Và rồi một quê hương năm tấn ra đời dưới sức mạnh tàn phá của bom đạn kẻ thù. Chúng không nhận ra một điều là bom đạn có thể hủy diệt vật chất nhưng không hủy diệt được tình yêu.

Theo tiếng gọi thiêng liêng của miền Nam ruột thịt, lúa lại theo người vượt Trường Sơn đi cứu nước. Những gùi lúa, bao lúa khi đến được tay người chiến sĩ đã thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả những giọt máu đào của người tải lúa, gạo. Tất cả cho hòa bình, tất cả vì miền Nam yêu thương mà “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”. Có bưng bát cơm nóng hổi từ hạt lúa vượt Trường Sơn ác liệt ngày ấy mới thấy trân quý tình người, tình lúa quê tôi.

Những cánh đồng lúa năm tấn một hecta thời kì chống Mỹ đó là một kì tích. Ngày nay, năng suất lúa ngày càng tăng nhờ kỹ thuật, cơ giới hóa nông nghiệp, sản lượng lúa trên một hecta vượt xa cái ngưỡng năm tấn. Nhưng dưới chiến tranh tàn phá mà làm được như vậy thật đáng quý trọng biết bao. Nhìn vào quá khứ tôi chỉ muốn thốt lên “Ôi quê lúa anh hùng!”.

Về quê trong dịp cuối năm, tôi vẫn thấy dì tôi cùng mọi người lóp ngóp trong cái lạnh cắt da, mưa phùn gió bấc để cấy. Lúc lên bờ đôi tay ai cũng cứng đờ, tê dại, đầu xoay xoay như chong chóng. Phải chăng vì thế mà lúa cứ xanh, cứ tốt, cứ trĩu hạt vàng bông, cho no con mắt ưng cái bụng người trồng lúa. Gặp mùa cắt lúa ngả rạ, cái khung cảnh rộn rịp, tưng bừng cộng với mùi hương nồng nàn lúa mới khiến bất kì ai cũng phải dừng lại ngắm nhìn và thưởng thức khi đi qua. Tiếng gọi nhau í ới, tiếng cười đùa rôm rả, những cánh cò chấp chới đằng xa, ngay chân gặt rào rào những cào cào, châu chấu béo vàng nũng nĩnh. Một miền quê thanh bình, yên ả đến không thể tưởng.

Con đường về quê mang máng trong ký ức khi tôi mới bốn tuổi, một cảm giác khó tả trào dâng. Hai bên đường những thửa ruộng lúa non mơn mởn trải dài. Đồng quê yêu thương, lòng những người con quê lúa như được vỗ về sau những tháng ngày xa quê.

Từ thành phố Thái Bình theo quốc lộ 10 tới quốc lộ 39 là gặp làng Nguyễn - xứ sở cửa thứ bánh tiến vua quê tôi - bánh cáy. Gọi là bánh tiến vua bởi khi xưa, quan đại thần triều đình đi kinh lý vùng châu thổ về qua đây, người dân đã lấy bánh dâng lên vua. Cứ thế, thành thông lệ, gần tết là người dân dâng bánh cho vua thưởng thức.

Nguyên liệu chính làm nên bánh cáy là gạo nếp. Ngoài ra còn có gấc, quả dành dành, lạc, vừng, cà rốt, gừng, vỏ quýt, mỡ lợn. Gạo nếp được chia ra làm hai phần, một phần đồ xôi với quả dành dành tạo nên màu vàng tươi, một phần đồ xôi với quả gấc cho màu đỏ. Hai loại xôi sau đó được giã bằng chày. Sau khi giã nhuyễn, cán mỏng, cắt thành lát như mứt bí rồi sấy khô. Sấy xong cho vào chảo mở lợn đang sôi đảo đều tới khi lát bánh thơm giòn.

Các nguyên liệu phụ như lạc, vừng được rang chín giòn, xát bỏ vỏ, gạo nếp hoa vàng được rang nổ bỏng nở tung, sạch trấu, dậy mùi. Mỡ lợn muối đường hơn nửa tháng đem ra thái nhỏ như hạt lựu, xào ngọt lấy độ trong. Cà rốt xào nước đường, nước gừng, vỏ quýt tươi được chuẩn bị đầy đủ. Cho các nguyên liệu đã chuẩn bị trộn đều với đường muối, hâm nóng trên chảo đến khi đạt tới mùi thơm kỹ thuật thì đưa vào khuôn gỗ có lót vừng bên trong, nhồi nén cho bánh trở nên cứng, sau đó lấy ra đóng gói.(tham khảo ý và trích dẫn tại…)

Bánh cáy không phơi nắng không sấy qua lửa nhưng để được lâu và làm bật lên những mùi vị đặc trưng của nguyên liệu nhờ vào bàn tay tài hoa của nghệ nhân làng Nguyễn.

Lần nào về tôi cũng thủ sẵn 5 đến 10 phong bánh vào Nam làm quà sau khi đã ăn thỏa thích. Ai qua Thái Bình mà chưa thưởng thức bánh cáy và đem về thì xem như chưa tới Thái Bình.

Những hôm tiết trời se lạnh, có bánh cáy cắt miếng nhâm nhi bên ấm trà xanh nóng hổi thật không có gì tuyệt vời bằng.

Những món ngon quê tôi bình dị, dân dã mà sâu sắc vì nó làm từ hạt lúa hay nhờ lúa mà ngon hơn. Nó sâu sắc vì tình người và cả tình lúa bao đời trên miền đất mộc mạc thủy chung này.

Tôi đã đi học trong miềm đất Nha trang đẹp và đầy nắng gió nhưng tôi không thể quên mảnh đất Thái Bình- chỉ cái tên thôi đủ làm tôi ấp áp và đượm mùi lúa thơm nồng - mảnh đất tôi đã sinh ra và lớn lên ở đó, và sau 4 năm tôi lại trở về lòng đầy tự hào rằng mình được sinh ra từ vùng quê nghèo ấy. Nơi đó đã nuôi dưỡng tâm hồn, cho tôi niềm tin, nghị lực để bước vào đời.

Ai cũng có một nơi để trở về và một điều gì đó để tự hào. Tôi cũng vậy, tôi tự hào vì mình sinh ra từ quê lúa bình dị, khi mỏi gối chồn chân tôi luôn tìm về để được thả mình trong không gian yên ả. Nếu có dịp đến quê tôi - Thái Bình, bạn sẽ hiểu vì sao tôi yêu quý./.

(ST. Internet)

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2015

Bạc Liêu: Về một vùng đất phong lưu

Miền Tây Nam Bộ luôn là một vùng đất kỳ thú, thu hút nhiều du khách. Đối với tôi, Miền Tây là một nỗi niềm ám ảnh, khiến tôi luôn nghĩ đến và muốn đến. Từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, học ở Sài Gòn, lúc nào rảnh rỗi, có điều kiện là tôi đi xuống Miền Tây. Bây giờ cũng thế! Đến nay, có thể nói bước chân của tôi đã đi qua hầu hết các tỉnh Miền Tây. Tất nhiên làm sao mà đi khắp các làng xã của vùng đất rộng lớn này! Chủ yếu là đi du lịch, đến nhiều nơi và đi thăm những thắng tích nổi tiếng, ngắm nhìn cảnh sắc và làm quen với những con người chân chất, thân thương ở những địa danh quen thuộc.

Hình minh họa
Đi, đến nhiều nơi, nhưng vẫn thiếu. Một lần từ TP Hồ Chí Minh, đi xe đò xuống Cà Mau, xe chạy xuyên qua Bạc Liêu, chỉ nhìn ngắm được cảnh vật hai bên đường. Chưa ghé thăm Bạc Liêu được, thì tạm ghi nhận qua Internet vậy!

Bạc Liêu là vùng đất tận cùng của đất nước mới được khai phá từ đầu thế kỷ 18. Trước đó Bạc Liêu còn là nơi hoang vu, sau được người Hoa gốc Triều Châu đến đây lập thành làng xóm, sống bằng nghề chài lưới. Địa danh Bạc Liêu xuất phát từ tiếng Triều Châu là Pò Léo, có nghĩa là xóm chài lưới (hạ bạc). Bức tranh Bạc Liêu xưa được mô tả qua câu ca dao:

                Bạc Liêu là xứ quê khờ
                Dưới sông cá chốt, trên bờ Triều Châu
                Nói về Xứ Cạnh Đền (nay thuộc xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng Dân, Bạc Liêu).
                Gả con về xứ Cạnh Đền,
                Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh tựa bánh canh.

Nhắc đến Bạc Liêu là nhiều người nghĩ ngay đến giai thoại về công tử Ba Huy nổi tiếng phong lưu, ăn chơi bạt mạng và lắm vợ, nhiều bồ. Là người hào hoa phong nhã, Ba Huy ăn chơi nức tiếng như chuyện Ba Huy đốt tiền nấu chè thi gan với công tử Phước (Phước Georges, người xứ Mỹ Tho, con trai Đốc phủ sứ Sảng). Công tử Bạc Liêu đã từng quậy tưng bừng tại khu Đại Thế Giới, là khách quen của hầu hết các nhà hàng sang trọng tại Sài Gòn. Ba Huy đã từng bao cả nhà hàng một đêm để đãi duy nhất một người đẹp. Nhà Công tử Bạc Liêu tại số 13, Điện Biên Phủ, thành phố Bạc Liêu. Hiện nay căn nhà này được dùng làm khách sạn trong hệ thống Nhà hàng - Khách sạn công tử Bạc Liêu.

Bạc Liêu xưa là đất ăn chơi nổi tiếng. Nhiều đại điền chủ Nam Kỳ lục tỉnh vào những năm cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, đến đây tung tiền xây cất dinh thự. Du khách tới TP Bạc Liêu sẽ không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy nơi đây có những dãy nhà Tây sang trọng, với vật liệu  trang trí nội thất như cửa và chấn song cửa, gạch và đá cẩm thạch ốp tường hoặc lát nền đều nhập từ Paris về.

Về Bạc Liêu, lại nhớ đến soạn giả Cao Văn Lầu - người sáng tác ra bản nhạc “Dạ cổ hoài lang” độc đáo.
Cao Văn Lầu (1892 – 1976) quê gốc ở Long An nhưng cha mẹ vì nghèo, bị áp bức nên tìm đến đất Bạc Liêu sinh sống. Vợ chồng ông ăn ở với nhau suốt ba năm không có con, khiến mẹ chồng phật ý, bắt phải ly dị. Sáu Lầu đối diện với nỗi đau xa cách người vợ thương yêu, ngày ngày xách đờn ra  bìa ruộng, nơi vợ chồng biệt ly để đàn những bản nhạc vợ ông ưa thích. Một đêm trung thu năm 1919, ông trằn trọc không ngủ được, tiếng trống sang canh vọng lại càng khiến ông đau lòng. Mình thì chưa ra trận mà vợ đã thành người vọng phu.
Hình minh họa
 Và thế là: Từ là từ phu tướng. Bảo kiếm sắc phán lên đàng. Vào ra luống trông tin nhạn. Năm canh mơ màng...  Dạ cổ hoài lang ra đời. Mượn tiếng trống đêm (dạ cổ) để làm nhịp cầu chở nhớ thương, mong đợi của người thiếu phụ vọng phu (hoài lang).
Hiện nay ở thành phố Bạc Liêu có đường phố Cao Văn Lầu và giải thưởng VHNT của tỉnh Bạc Liêu mang tên Cao Văn Lầu.
Về vùng đất này, ta nghe lại những bài hát hay, nhưng giọng điệu buồn thương, ngậm ngùi nhớ về một thời khổ đau mở đất năm xưa: Bài ca Đất Phương Nam, Điệu buồn Phương Nam, Đêm Gành Hào nghe điệu Hoài Lang…

                Lời ai ca... dưới ánh trăng nay...
                Rừng nước mênh mông, đêm Gành Hào chợt thương nhớ ai,
                Ngày ấy ra đi con sông buồn tiếc một dòng trôi
                Bạc Liêu ơi... có nhớ chăng người ...
                Thuở ấy thanh xuân trăng Gành Hào tròn như chiếc gương
                Giờ tóc pha sương qua Gành Hào tiếc một vầng trăng.

Cũng từ chất phong lưu, tài tử đã thành truyền thống, đất Bạc Liêu ngày nay có nhiều sinh hoạt văn nghệ khá phong phú, cả về phương diện sáng tác lẫn diễn tấu. Trung Tâm VH TP, CLB Hồ Nam mỗi đêm trong tuần đều diễn ra hoạt động văn nghệ. Đầu tuần thì hát karaoké, cuối tuần thì hát nhạc sống và khiêu vũ, thưởng thức nhạc Trịnh...Các TTVH huyện tổ chức tụ điểm hát với nhau. Nghe đâu phong trào này đang gặp khó khăn, nhưng với chất tài tử của người Bạc Liêu, chắc phong trào sẽ được vực dậy và có bước phát triển mới.

Gần đây tôi có vào blog Gió Phương Nam để đọc thơ của người Bạc Liêu. Thơ Gió Phương Nam có giọng trẻ trung, tha thiết. Mới xuất hiện nhưng cô đã viết khá nhiều về tình người, tình đất với nhiều địa phương khác nhau, nhưng điều đáng quý nơi cô là tấm lòng tha thiết với quê hương. Lứa tuổi của cô lớn lên nơi vùng đất phương nam của thời hiện đại, với vẻ đẹp tân kỳ, đâu còn chất phèn chua mặn của những ngày khai hoang vỡ đất đau thương, nên thơ cô viết về Bạc Liêu tươi trẻ, sinh động với làng quê, phố thị đẹp đẽ, reo vui. Điều đó làm nên chất nhạc, chất thơ mới của Bạc Liêu hôm nay.

Sinh ra và lớn lên ở TP Bạc Liêu, lấy chồng Người Phương Bắc, nhưng Gió Phương Nam vẫn sống và làm việc (ngành Y) trong địa bàn tỉnh Bạc Liêu. “Con sáo sang sông”, nhưng luôn nhớ đất quê, và  “Chim Sáo quay về”:

                Mùa xa gió cũng lim dim nhớ
                mưa đến rồi đi nắng ngủ vùi
                chim sáo quay về thăm bến cũ
                ngập ngừng con nước áo lụa phơi
 
Vì trong lòng luôn “Thương Lắm Bạc Liêu”:

                Bạc Liêu ơi quê mình thương lắm
                Vẫn ngàn đời muối mặn gừng cay
                Những cánh chim phương nào có mỏi
                Hãy về nghe mưa nắng đong đầy!
 
Đọc bài thơ, tự nhiên tôi nhớ đến lời bài hát “Điệu buồn Phương Nam” của Vũ Đức Sao Biển:

                Chợt thương con sáo bay xa bầy
                Sương khói buồn để lại lòng ai
                Con sáo sang sông
                Sáo đã sổ lồng
                Bay về Bạc Liêu, con sáo bay theo phương người
                Bay về Trà Vinh, con sáo bay qua đời tôi.
 
Nhưng nỗi ngậm ngùi xưa “Về phương Nam ngắm sông ngậm ngùi, Thương những đời như lục bình trôi..” thì không còn nữa, chỉ có nụ cười vui tươi, pha chút dí dỏm trong tâm tư của “Chim Sáo quay về”:

                Trách hờn chi những con thuyền giấy
                chở câu hò đưa sáo qua sông
                hàng dừa nước cong mình tay vẫy
                sóng nôn nao… sóng đổ nghiêng lòng
 
“Mai Anh Về” là lời mời gọi tha thiết, thắm đượm chất tình, nhưng đó không phải là cái tình dành cho một người, mà là tình yêu lớn, nỗi tự hào về quê hương tươi đẹp của mình:

                Mai anh về Bạc Liêu với em
                Nhặt câu vọng cổ rớt bên thềm
                Để tin có sóng dâng lên mắt
                Gió mát từ môi…mát xuống đêm

                Anh có về mà nghe lúa hát
                Lời phù sa kể chuyện trăm năm
                Biển hào phóng mặn mòi hạt muối
                Đất bao dung ngọt mát hương tràm
Hình minh họa
 Thơ văn viết về vùng đất phương nam thì nhiều lắm. Ngày trước tôi đã từng nôn nao với những trang văn của Đòan Giỏi, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy…, bây giờ thì cứ vào trang web Sông Cửu Long tha hồ mà đọc! Nhưng nói riêng một chút về Gió Phương Nam, nhờ người bản địa cảm hộ cái đẹp, vẻ hấp dẫn của Bạc Liêu hôm nay. Đó cũng là cách “mượn hoa bái Phật”, Gió Phương Nam chắc cũng vui lòng, không trách đâu!


Thôi, tìm hiểu về Bạc Liêu như vậy cũng tạm đủ rồi! Bài viết này chủ yếu ghi chép tư liệu từ Internet, copy nhiều, các bạn thông cảm. Mong sớm có dịp đến vùng đất này này để được nhìn ngắm những thắng tích : Phước Đức cổ miếu, Chùa Xiêm Cán, Tháp Vĩnh Hưng, Vườn chim, Vườn nhãn….Ngày ấy, tôi sẽ đến chợ Bạc Liêu nếm thử Cốn xại (cải muối), Xá bấu (củ cải muối), Bánh Củ cải - những món ăn truyền thống của người Hoa. Đi theo đường Cao Văn Lầu chạy ra mé biển, đến Giồng Nhãn (Hiệp Thành) ăn Bánh Xèo; đến chùa cô Bảy (P.5, TPBL) ăn Lẫu Mắm; đến đường Lý Tự Trọng ăn Bánh Tằm bì. Có điều kiện thì đi Hồng Dân ăn Mắm Cá trắm, đến thị trấn Ngan Dừa ăn Bánh Tằm... Chắc ở những nơi này thế nào cũng có Bún Bò Cay ăn sáng, và trưa chiều ăn cơm với món Cá chốt kho sả kèm với rau đắng, hoặc dưa bồn bồn, dưa năn bộp. Gặp mùa nhãn, thì đến một khu vườn nào đó nằm đu đưa trên võng, ăn thử nhãn da bò mà nghe ca vọng cổ. Còn nào là Mắm Chua Vĩnh Hưng, Đuông Chà là...Làm sao thưởng thức cho hết những món bình dị, dân dã nhưng ngon nổi tiếng của vùng đất này đây! Có thể những món trên, một vài nơi khác cũng có, nhưng món ăn Bạc Liêu có hương vị riêng, hấp dẫn, làm nên đặc sản của xứ Bạc Liêu!
Huy Nguyên

Bài đăng phổ biến