| STT | Thu | Ghi chú | Chi | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Tháng 10/2016 | 500 | a Đức chuyển | 50 | Đổ xăng |
| NT | 4240 | Lương tháng 10 | 100 | Thẻ điện thoại |
| NT | 1000 | Thủy điện Nậm Bụm | 50 | Đổ xăng | NT | 1000 | Thủy điện Nậm Đích | 30 | Nước mía, mì tôm |
| Tổng cộng | 6740 | --- | 230 | R--- |
ThuyLoi.com : Ngành Kỹ thuật Công trình Thủy thuộc nhóm ngành Xây dựng. Ngành Kỹ thuật Công trình Thủy có 01 chuyên ngành : Thủy lợi – Thủy điện. 1. TỔNG QUAN ...
Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016
Account
NA################################## NA################################## NA################################## NA################################## NA################################## NA################################## NA##################################
Số dư: 6510k
Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016
Triển khai công nghệ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước ở Cao nguyên đá Đồng Văn
Ngày 03/10/2016, tại huyện Đồng Văn, UBND tỉnh Hà Giang tổ chức Hội nghị bàn các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án “Nghiên cứu triển khai thực hiện công nghệ khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước ở vùng núi đá vôi Việt Nam, áp dụng thử nghiệm ở khu vực thuộc Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang” (gọi tắt là KaWaTech).
KaW aTech là một dự án trong chương trình hợp tác theo Nghị định thư giữa Chính phủ Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức được thực hiện tại Hà Giang. Dự án nhằm nghiên cứu triển khai công nghệ khai thác, sử dụng tài nguyên nước ở các vùng núi đá vôi từ đó đưa ra giải pháp cấp nước bền vững cho người dân trong vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn. Dự án được triển khai từ tháng 02/2014. Đây là dự án được các chuyên gia Đức đầu tư máy móc và chuyển giao công nghệ cấp nước không dùng điện theo công nghệ mới (PAT). Bộ Khoa học và Công nghệ hỗ trợ trên 3 tỷ đồng; UBND tỉnh Hà Giang đối ứng nguồn vốn trên 50 tỷ đồng.
![]() |
| Lãnh đạo UBND tỉnh Hà Giang cùng các chuyên gia kiểm tra tiến độ thực hiện các hạng mục dự án KaWaTech tại thủy điện Séo Hồ thuộc xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn, Hà Giang. |
Qua một thời gian triển khai, đến nay các chuyên gia Đức đã phối hợp với Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cùng với tỉnh Hà Giang đã tiến hành 18 đợt điều tra nghiên cứu tại huyện Đồng Văn. Xây dựng đường ống áp lực và các hạng mục công việc liên quan đến chuyển giao công nghệ nên đã xin giãn tiến độ. Đối với 2 tổ bơm đáp ứng yêu cầu bơm nước lên cao trình 600 mét với công suất từ 1.555m3/ngày đêm đã được lắp đặt tại thủy điện Séo Hồ thuộc xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn theo chỉ đạo kỹ thuật của chuyên gia Đức.
Hiện nay các dự án: Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật phục vụ lắp đặt hệ thống cấp nước theo công nghệ mới PAT; dự án xây dựng hệ thống phân phối nước cho thị trấn Đồng Văn và các khu lân cận từ ứng dụng công nghệ mới PAT; dự án đầu tư xây dựng đường ống áp lực cho Mudun cấp nước không dùng điện đang khẩn trương triển khai. Các hạng mục dự kiến hoàn thành vào tháng 9/ 2016 nhưng do một số vướng mắc về giải phóng mặt bằng, đường giao thông bị sạt lở do mưa bão, lũ quét và việc giải ngân nguồn vốn còn chậm nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ của dự án đề ra./.
Nguồn tin: Báo ảnh Dân tộc và Miền núi
Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong quản lý tài nguyên nước
Ngày 21/9, tại Hà Nội, đã diễn ra Hội thảo tổng kết dự án “Tăng cường năng lực cho Trường Đại học Thủy lợi và Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Hà Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu”. Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Chu Phạm Ngọc Hiển đã tham dự và phát biểu tại Hội thảo.
Tham dự Hội thảo có bà Nienke Trooster, Đại sứ Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam; đại diện lãnh đạo hai Bộ TN&MT và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đại diện hai trường Trường Đại học TN&MT Hà Nội và Trường Đại học Thủy lợi, cùng đại diện sinh viên của hai trường.
| Trao bằng khen và phần thưởng cho các sinh viên giỏi |
Dự án “Tăng cường năng lực cho Trường Đại học Thủy lợi và Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) Hà Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu” (NICHE VNM 106) nằm trong khuôn khổ Thỏa thuận Đối tác chiến lược giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hà Lan về thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nước đã được Thủ tướng hai nước ký ngày 04/10/2010. Dự án được thực hiện tại hai trường trong 5 năm 2012 – 2016 tại Việt Nam.
Phát biểu tại Hội thảo, Thứ trưởng Chu Phạm Ngọc Hiển khẳng định Dự án đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường năng lực cho hai trường đại học thuộc Bộ TN&MT và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Dự án đã được đánh giá là một trong những dự án NICHE thực hiện tại Việt Nam thành công nhất cho đến thời điểm này. Thứ trưởng đánh giá cao các kết quả mà dự án đã đạt được cũng như những lợi ích trực tiếp và gián tiếp mà dự án mang lại cho các đơn vị thuộc Bộ TN&MT nói riêng và các Bộ liên quan nói chung.
Thứ trưởng Chu Phạm Ngọc Hiển cho biết, trong những năm qua, lĩnh vực tài nguyên nước được nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm do những vấn đề hạn hán, xâm nhập mặn, lũ lụt, ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Vì vậy, tăng cường năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
| Toàn cảnh Hội thảo |
Sự hợp tác giúp đỡ trong giáo dục đào tạo và nghiên cứu của Hà Lan đã giúp các trường đại học tại Việt Nam từng bước hợp tác và hội nhập nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, tham gia và mạng lưới giáo dục quốc tế với tư cách là một đối tác chính trong mọi lĩnh vực nghiên cứu. Với định hướng ấy, Bộ TN&MT đã hết sức ủng hộ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để Trường Đại học TN&MT Hà Nội hoàn thành các mục tiêu dự án đề ra, góp phần nâng cao vị thế của Nhà trường trong xu thế hội nhập và phát triển.
“Thành công và kinh nghiệm thực hiện các dự án NICHE tại Việt Nam, đặc biệt là tại các trường đại học là nguồn lực quan trọng góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của các trường nhanh, mạnh và bền vững; từng bước đưa vị thế các trường lên một tầm cao mới theo xu hưóng hội nhập với nền giáo dục tiên tiến của thế giới.” - Thứ trưởng Chu Phạm Ngọc Hiển nhấn mạnh.
Để phát triển bền vững các kết quả của dự án NICHE VNM 106 đạt được, Thứ trưởng Chu Phạm Ngọc Hiển mong muốn và đề nghị Chính phủ Hà Lan tiếp tục hỗ trợ cho Trường Đại học TN&MT Hà Nội tăng cường năng lực trong giáo dục đào tạo và đặc biệt là năng lực nghiên cứu khoa học. Sự hỗ trợ của Hà Lan không chỉ giúp Việt Nam có được nguồn nhân lực chất lượng cao về quản lý tài nguyên nước mà còn đẩy mạnh mối quan hệ bền chặt giữa hai quốc gia Việt Nam – Hà Lan.
| Bà Nienke Trooster, Đại sứ Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam phát biểu tại Hội thảo |
Phát biểu tại Hội thảo, bà Nienke Trooster, Đại sứ Vương quốc Hà Lan tại Việt Nam bày tỏ sự vui mừng trước thành công của dự án đã mang lại. Bên cạnh tăng cường năng lực cho hai trường Đại học TN&MT Hà Nội và Đai học Thủy lợi, dự án đã giúp các sinh viên giải quyết các vấn đề trong xã hội chứ không chỉ tập trung vào lý thuyết. Bà mong muốn các sinh viên và học viên của hai trường sau khi tốt nghiệp sẽ đóng góp vào công cuộc phát triển bền vững Việt Nam.
Dự án đã xây dựng thêm 3 khóa học thạc sĩ về Kỹ thuật bờ biển, Quản lý vùng ven biển và Quản lý thiên tai tại Đại học Thủy lợi, sau khi khóa Thạc sĩ đầu tiên về quản lý tổng hợp tài nguyên nước được triển khai thành công vào năm 2013. Hai trường đã có hơn 40 sinh viên tốt nghiệp chương trình đào tạo đại học về quản lý tổng hợp tài nguyên nước; 07 thạc sỹ theo chương trình tiên tiến; tổ chức gần 10 khóa học tập, bồi dưỡng ngắn hạn. Bên cạnh đó, năng lực nghiên cứu và giảng dạy của giảng viên tại hai trường cũng được tăng cường đáng kể.
Theo Monre.gov.vn
Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2016
Quy định mới về việc xác định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt
Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa ban hành Thông tư số 24/2016/TT-BTNMTquy định việc xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 25/10/2016.
![]() |
| (Ảnh minh họa: Bích Liên) |
Theo đó, thông tư quy định vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoat được xác định trên nguyên tắc: đảm bảo ngăn ngừa, giảm thiểu tác động tiêu cực đến chất lượng nguồn nước của công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt và các chức năng khác của nguồn nước; phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất, địa chất thuỷ văn, chế độ dòng chảy, đặc điểm nguồn nước, quy mô khai thác, sơ đồ bố trí công trình và các đặc điểm khác liên quan đến việc bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt; phù hợp với hiện trạng sử dụng đất và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của khu vực có công trình khai thác nước để cấp cho sinh hoạt.
Công trình khai thác nước để cấp nước cho sinh hoạt hoặc cấp nước cho nhiều mục đích, trong đó có cấp nước cho sinh hoạt phải xác định và công bố vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt, bao gồm: công trình khai thác nước mặt với quy mô trên 100 m3/ngày đêm và công trình khai thác nước dưới đất với quy mô trên 10 m3/ngày đêm.
Với khai thác nước mặt, phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh của các công trình khai thác nước mặt trên sông, suối, kênh, rạch để cấp cho sinh hoạt bao gồm phạm vi hành lang bảo vệ nguồn nước đối với sông, suối, kênh, rạch mà công trình đó khai thác và vùng thượng lưu, hạ lưu tính từ vị trí khai thác nước của công trình.
Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô trên 100 m3/ngày đêm đến dưới 50.000 m3/ngày đêm thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 1.000 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi; 800 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
Trường hợp công trình khai thác nước với quy mô từ 50.000 m3/ngày đêm trở lên thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 1.500 m về phía thượng lưu và 100 m về phía hạ lưu đối với khu vực miền núi; 1.000 m về phía thượng lưu và 200 m về phía hạ lưu đối với khu vực đồng bằng, trung du.
Các công trình khai thác nước mặt từ hồ chứa để cấp cho sinh hoạt thì phạm vi bảo hộ vệ sinh tính từ vị trí khai thác nước của công trình và quy định: không nhỏ hơn 1.500 m đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa trên sông, suối và không vượt quá chỉ giới hành lang bảo vệ nguồn nước của hồ chứa; toàn bộ khu vực lòng hồ đối với trường hợp công trình khai thác nước từ hồ chứa.
Với công trình khai thác nước dưới đất để cấp cho sinh hoạt có quy mô trên 10m3/ngày đêm đến dưới 3.000 m3/ngày đêm thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 20 m tính từ miệng giếng. Với công trình có quy mô từ 3.000 m3/ngày đêm trở lên thì phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh không nhỏ hơn 30m tính từ miệng giếng.
Thông tư cũng quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sinh sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trong phạm vi vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt; tổ chức trực tiếp quản lý, vận hành công trình khai thác nước; Sở TN&MT và Ủy ban nhân dân các cấp trong việc phối hợp xác định, công bố công khai vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt và thực hiện các biện pháp bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt./.
BL
Nguồn: Dangcongsan.vn
Thứ Ba, 13 tháng 9, 2016
Vỡ đường ống thủy điện Sông Bung 2, nhiều công nhân bị cuốn trôi
Khoảng 17h ngày 13/9, đường ống dẫn nước từ đập về nhà máy thủy điện Sông Bung 2 (Nam Giang, Quảng Nam) bị vỡ, cuốn trôi nhiều công nhân.
![]() |
| Nước lũ và nước từ đường ống dẫn tràn vào nhà dân bên dưới đập. |
Khoảng 17h, lũ thượng nguồn đổ về gây tràn, vỡ đường ống dẫn nước từ đập về nhà máy thủy điện Sông Bung 2 (xã Zuôih, Nam Giang). Dòng nước đỏ quạch cuốn trôi 2 máy múc đang làm việc dưới thân đập khiến 2 công nhân mất tích.
16 người khác làm việc gần đó hiện chưa có thông tin do địa bàn xa, địa hình đồi núi hiểm trở, lực lượng cứu hộ chưa thể tiếp cận.
Ông Ngô Việt Hải, Tổng giám đốc Tổng công ty Phát điện 2 (chủ đầu tư Thủy điện Sông Bung 2) cho biết đây là sự cố nước tràn qua cống dẫn dòng ở dưới thân đập thủy điện, với khoảng 13 triệu m3. Đơn vị đóng cống dẫn dòng để tích nước hồ chứa chuẩn bị phát điện. Tuy nhiên, mấy ngày qua mưa bão, lũ lớn về nên nước tràn xuống phía hạ lưu.
"Sau sự cố, toàn bộ công trình chính an toàn", ông Hải nói và cho biết 2 công nhân vận hành máy múc của nhà thầu mất tích do lũ tràn qua nhanh, không kịp chạy. Phía chủ đầu tư chưa ghi nhận thiệt hại về người với dân cư địa phương. “Lúc đầu nước đột ngột chảy như lũ quét, sau đó không có vấn đề gì nữa. Chúng tôi đang tập trung khắc phục, xử lý”, ông Hải thông tin.
Đến 21h30, ông Huỳnh Khánh Toàn, Phó chủ tịch tỉnh Quảng Nam cho hay, còn khoảng 10 km nữa là đoàn công tác sẽ tiếp cận hiện trường. Nguyên nhân bước đầu là nước lũ từ thượng nguồn đổ về với lưu lượng rất lớn (theo hệ thống quan trắc tự động khoảng 560 m3/s), ảnh hưởng trực tiếp đến đường ống dẫn nước từ đập vào nhà máy và cuốn trôi 2 công nhân.
Phó chủ tịch tỉnh khẳng định đến nay toàn bộ công trình thủy điện vẫn an toàn và bác bỏ thông tin một số người dân đi đãi vàng dưới khu vực hạ lưu bị nước tràn cuốn mất tích.
Dự kiến 9h sáng 14/9, UBND tỉnh sẽ chủ trì cuộc họp báo để thông tin vụ việc.
Nhóm phóng viên
Theo vnexpress.net
Nhà máy thủy điện Sông Bung 2 (xã Zuôih, huyện Nam Giang) nằm trong bậc thang thủy điện thuộc hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn, khởi công năm 2012, công suất lắp đặt 100 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 425,57 triệu kWh. Tổng mức đầu tư công trình hơn 3.600 tỷ đồng, đến tháng 5/2016 bị đội vốn lên 1.600 tỷ đồng. Cuối tháng 8, thủy điện Sông Bung 2 bắt đầu tích nước. Quảng Nam hiện là địa phương có mật độ thủy điện lớn nhất nước với hơn 40 công trình.
Thứ Năm, 25 tháng 8, 2016
Đập thuỷ điện: Lợi bất cập hại?
Thuỷ điện được coi là một trong những nguồn năng lượng tái sinh sạch nhất và rẻ nhất, có sẵn để sản xuất trên quy mô lớn. Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ, về mặt môi trường cái hại của thuỷ địên khá lớn, đôi lúc cái hại hơn lợi.
Trước khi, trong khi và sau khi xây đập xong, thiên nhiên bị phá hoại tỷ lệ thuận với quy mô của đập. Từ đó thường xuyên tồn tại nhưng nguy cơ xảy ra các tai nạn vào bất cứ lúc nào.
Trước khi xây đập
Trước hết, địa điểm thích hợp để xây đập thủy điện thường là miền núi có sông chảy qua. Tại đây có hệ sinh thái rừng với động thực vật và người dân đang sống trong vùng. Để xây đập và hồ chứa nước phải khai quang một diện tích rừng rất lớn, kể cả vùng rừng xung quanh. Chính điều này sẽ huỷ hoại phần lớn Thiên nhiên, làm mất đi môi trường sinh sống lâu đời của động thực vật, trong đó có những loài đặc hữu, quý hiếm.
Việc xây đập và hồ chưa nước buộc dân địa phương phải di chuyển nơi sinh sống. Cuộc sống của họ bị đảo lộn. Nền văn hoá và phong cách sống của họ không thể bảo tồn được như xưa nữa. Trong đa số trường hợp, nơi ở mới không thuận lợi bằng nơi họ đang sống và việc đền bù không thể bù đắp lại được những thiệt hại và tổn thất mà họ phải chịu đựng. Tất cả phải làm lại từ đầu trên vùng đất mới với những điều kiện rất khó khăn và không phải có thể giải quyết nhanh chóng.
Khi con đập hoạt động
Tại địa điểm xây dựng, sông không tồn tại nữa, một hồ nhân tạo khổng lồ xuất hiện. Với điều kiện nước đứng yên của những hồ nước mới sẽ thu hút các côn trùng lan truyền bệnh tật. Những người dân sống gần đập sẽ phải đối phó với nguy cơ lớn đối với sức khoẻ.
Vì các đập thường được xây trên núi, nên nhiều vụ lở đất và trượt đất đã xảy ra. Khi đột nhiên xây những con đập để giữ nước ở độ cao hàng trăm, có khi hàng nghìn mét so với mặt biển nền đất sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Điều này đã xảy ra đối với con đập Vajont vào năm 1963, khiến 2000 người bị chết do đất trượt.
Phục hồi khó hơn xây dựng
Thiệt hại đã gây ra khi phá rừng, đào hồ chứa nước làm Thiên nhiên khó có thể phục hồi. Khi sinh thái bị phá huỷ cần hàng trăm năm mới xây dựng lại được một sự cân bằng mới và cũng có thể vĩnh viễn bị huỷ hoại.
Thế nhưng người ta vẫn ngăn sông đắp đập để đáp ứng các nhu cầu của công nghiệp. Làm thế nào để có phương án thay thế trước khi chúng ta phá huỷ những con sông là điều mà các nhà chiến lược phải cân nhắc một cách toàn diện.
Theo Vietnamnet
Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016
Chuyên gia Việt cảnh báo tác hại khi Trung Quốc 'giữ lũ' Mekong
Chuyên gia hàng đầu về Mekong khẳng định các đập thủy điện của Trung Quốc giữ lại nước nhằm giảm lũ ở hạ nguồn gây tác động xấu đối với Việt Nam.
"Mấy năm nay đồng bằng sông Cửu Long bị mất lũ, là điều rất nguy hại. Chúng ta cần hiểu khái niệm lũ đẹp, tức là lũ giúp điều hoà nguồn nước vào đồng bằng, làm vệ sinh cho đồng ruộng. Lũ cũng sẽ mang phù sa cho trồng trọt, nguồn thức ăn trôi nổi cho nhiều loại cá và giúp giảm xâm nhập mặn ở khu vực này", ông Đào Trọng Tứ, nguyên phó tổng thư ký Uỷ ban sông Mekong Việt Nam, trao đổi với VnExpress.
Theo Đài Khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ, mực nước vùng đầu nguồn sông Cửu Long thời điểm giữa tháng 8 rất thấp. Trên sông Tiền, tại Tân Châu mực nước cao nhất chỉ 1,36 m; trên sông Hậu tại Châu Đốc là 1,20 m; thấp hơn cùng kỳ năm trước khoảng 40-50 cm.
"Đến nay, chưa có dấu hiệu gì báo lũ về vùng đầu nguồn", ông Khương Lê Bình, Giám đốc Đài Khí tượng thủy văn tỉnh Đồng Tháp, cho biết.
Là một chuyên gia hàng đầu về vấn đề sông Mekong, ông Tứ cho biết các đập thuỷ điện đã giữ lại một lượng lớn phù sa của con sông, trong khi ước tính 50% phù sa của đồng bằng sông Cửu Long là từ trên thượng nguồn đổ về.
Về phía Trung Quốc, các quan chức nước này khi trao đổi với một nhóm phóng viên Việt Nam thăm một số đập thủy điện trên thượng nguồn sông Mekong hồi giữa tháng 6, cho biết Trung Quốc hiện có tổng cộng 6 đập thủy điện đang vận hành ở khu vực này, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là Công Quả Kiều, Tiểu Loan, Mạn Loan, Đại Triều Sơn, Nọa Trát Độ và Cảnh Hồng.
Ông Vương Hồng Minh, Vụ hợp tác quốc tế, Khoa học và công nghệ, Bộ Thủy lợi Trung Quốc, cho hay đặc điểm chung của các đập thủy điện là dùng để phát điện chứ không phải là "tiêu thụ nước". Trung Quốc giữ lại nước trên thượng nguồn nhưng sau đó vẫn xả xuống hạ du, chỉ làm "thay đổi quy trình chứ không làm mất nước đi nơi khác".
"Khi các quốc gia ở hạ lưu đang vào mùa mưa, họ không cần nhiều nước, lúc đó Trung Quốc sẽ tích nước để nhà máy điện hoạt động. Khi vào mùa khô, Trung Quốc sẽ xả nước. Quy trình này có tác dụng ngăn lũ, chống hạn cho các nước hạ du", ông Vương nói.
Phản bác lại ý kiến này, ông Tứ đánh giá khi một quốc gia tích trữ nước của dòng sông tự nhiên thì cơ chế xả nước sẽ vận hành theo phụ tải điện của nước đó.
"Việc xây đập thủy điện không phải làm để xả nước, nếu không tích nước thì không thể phát điện. Câu chuyện đó với đồng bằng sông Cửu Long là gây nên tình trạng bị mất lũ", ông Tứ nói.
Thiếu cơ chế chia sẻ thông tin
Là người theo dõi tình hình ở sông Mekong nhiều năm, ông Tứ cho biết một trong những vấn đề chính ở khu vực này là Trung Quốc vẫn chưa chia sẻ thông tin về cơ chế hoạt động của các đập thủy điện của họ với 4 nước thuộc hạ lưu, gồm Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và Lào. Đây là các nước thành viên của Ủy hội sông Mekong (MRC). Điều đó khiến những nước hạ nguồn bị động trong việc sử dụng nguồn nước, nhất là khi xảy ra tình trạng hạn hán trong mùa khô.
Giải thích về việc này, ông Vương Hồng Minh, Bộ Thủy lợi Trung Quốc cho hay Bắc Kinh có chia sẻ thông tin trong mùa lũ với các nước MRC, nhưng họ không làm việc này vào mùa khô.
| Đập thuỷ điện Tiểu Loan của Trung Quốc có tổng dung tích 15 tỷ m3. |
"Vào mùa khô thông tin về lưu lượng ở thượng nguồn bị tác động bởi các yếu tố như độ bốc hơi, nước ngầm, lượng mưa nên không có nhiều tác dụng cho dự báo. Theo thông lệ quốc tế thì chúng tôi không cung cấp thông tin vào mùa này", ông Vương nói.
Không đồng tình với lập luận này, ông Tứ cho hay thông tin về hoạt động của các đập thuỷ điện cần được chia sẻ cả trong mùa khô và mùa mưa. Hiện các nước trên thế giới áp dụng Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật sử dụng các nguồn nước liên quốc gia cho các mục đích phi giao thông thủy năm 1997. Tức là việc chia sẻ thông tin cần được đảm bảo cho hợp tác quanh năm giữa các nước.
Cựu quan chức Ủy ban sông Mekong Việt Nam cũng lưu ý cần xem xét việc các đập thủy điện của Trung Quốc có hồ điều tiết loại gì. Nếu là hồ điều tiết nhiều năm thì lượng nước được tích lại không phải trong một năm mà là cho nhiều năm.
Đánh giá về cơ chế đối thoại trong hợp tác Lan Thương - Mekong được hình thành vào tháng 3 năm nay, ông Tứ nói việc này phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ của các quốc gia với nhau. Ông mong muốn Trung Quốc thời gian tới sẽ tham gia MRC để cùng các nước hạ lưu xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nước. Hiện Trung Quốc và Myanmar chưa phải thành viên Ủy hội này. Khi cơ chế Lan Thương - Mekong chưa có các hiệp định cụ thể, vấn đề quản lý nước chỉ mang ý nghĩa hợp tác chung chung, trong khi hợp tác phát triển bền vững ở Mekong còn rất nhiều thách thức.
"Với các dòng sông quốc tế, việc các nước có cơ chế hợp tác là điều rất quan trọng, các nước không thể nói anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Các bên cần hợp tác trên tinh thần cùng có lợi, trên cơ sở thiện chí và dựa trên luật pháp quốc tế. Tôi hy vọng cơ chế Lan Thương - Mekong sẽ giúp khắc phục những thiếu sót về hợp tác giữa Trung Quốc và các nước thuộc hạ lưu", ông Tứ nói.
Tác giả bài viết: Theo Việt Anh
Nguồn tin: vnexpress.net
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Bài đăng phổ biến
-
ashui.com - Một công trình kiến trúc tốt, ngoài quyết định đúng đắn của chủ đầu tư, sự đồng thuận của các cơ quan quản lý và các tổ chức có ...
-
Cho dù độ lượng và có cái nhìn chia sẻ đến đâu chăng nữa thì vẫn phải khẳng định rằng, sản xuất điện từ than đá là “hạ sách” trong thời đại ...
-
Phân cấp đất theo Tiêu chuẩn quốc gia về Phân cấp đất đá trong công trình thủy lợi Bảng 1 - Bảng phân cấp đất dùng cho công tác đào vận chuy...
-
NA################################## NA################################## NA################################## NA###########################...
-
Khái niệm ma sát âm Ma sát âm (tiếng Anh negative skin friction) là hiện tượng đất xung quanh cọc bị lún cố kết lớn hơn chuyển vị xuống dưới...
-
Ngày 03/10/2016, tại huyện Đồng Văn, UBND tỉnh Hà Giang tổ chức Hội nghị bàn các giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án “Nghiên cứu tri...
-
ADS Civil là bộ chương trình phần mềm hỗ trợ thiết kế công trình đường, đây là bộ công cụ hỗ trợ thiết kế có giao diện thân thiện, kế thừa...
-
Như đã biết, thành phần hạt của đất là hàm lượng các nhóm hạt có độ lớn khác nhau ở trong đất được biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm so với khố...
-
Búa đóng cọc điêzel là loại búa hoạt động theo nguyên lý va đập, nó được cấu từ hai bộ phận chính là: quả búa và giá búa. Khi đóng cọc quả b...
-
Đối với những công trình dùng để phục vụ thi công những công trình khác như hố móng, rãnh đặt đường ống... khối lượng công tác đất phụ thuộc...



