Thứ Sáu, 16 tháng 8, 2013

Mừng sinh nhật lần thứ 4 của website

Kính thưa quí độc giả,
Ngày 19/8/2009, đúng 4 năm về trước website chuyên về lĩnh vực Thủy lợi & Xây dựng chính thức được hoạt động. Ngày 19/8/2013 đánh dấu sinh nhật lần thứ 4 của www.thuyloivn.com, trong 4 năm qua website vẫn đang trong quá trình xây dựng và phát triển.
Để đánh dấu dịp đáng nhớ này, xin mời bạn cùng tham khảo lại một số các cột mốc:
Như vậy, cho tới thời điểm này www.thuyloivn.comđã trải qua 4 lần thay đổi tên miền và hiện tại bạn đọc có thể truy cập vào bằng 2 cổng: www.thuyloivn.com kỹsưthủylợi.vn
19/8/2013, sinh nhật lần thứ 4 của www.thuyloivn.com, BBT xin chân thành cảm ơn tới bạn đọc đã quan tâm và ủng hộ trang web, đặc biệt là những người đang học tập, công tác trong lĩnh vực Thủy lợi và Xây dựng.
Thân ái!



ThS: Đoàn Ngọc Tứ

Liên hệ với Đoàn Ngọc Tứ

Thông tinChi tiết
Liên hệ
Địa chỉ liên hệ:
Web administration: ThS. Đoàn Ngọc Tứ (04/7/1986)
Điện thoại: (0969).880.422 hoặc (0979).880.422     
Email: admin@thuyloivn.com hoặc ngoctu47@gmail.com
Địa chỉ: Phòng Khoáng sản, Tài nguyên nước – Sở Tài nguyên và Môi trường Tỉnh Lai Châu. Tầng 3, nhà F, Trung tâm Hành chính - Chính trị tỉnh, Phường Tân Phong, TP. Lai Châu


Công việc
1. Từ 11/6/2009-28/11/2014: Trung tâm Công trình đồng bằng ven biển và Đê Điều - Viện Thủy công - Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam (Số 7 ngõ 95, Chùa Bộc, Hà Nội).
2. Từ 02/12/2014 - nay: Sở Tài nguyên và Môi trường Lai Châu.
Lĩnh vực quan tâm- Địa kỹ thuật
- Kết cấu công trình
- Lập trình
- Đồ họa
(Imagination is more important than knowledge)
Câu nói yêu thích
1. Danh ngôn: Thử thách của thành công không phải là ở chỗ ta làm gì khi ở đỉnh cao mà là khả năng vươn lên mức nào sau khi đã rơi tận đáy. (George S.Patton)
2. Thơ:          Ví không có cảnh đông tàn
              Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân
                                                          (Hồ Chí Minh)

Thứ Năm, 15 tháng 8, 2013

Hồ chứa nước trên miệng núi lửa

Bây giờ, khi hồ chứa nước Thới Lới được xây dựng trên miệng núi lửa đã ngưng hoạt động cách đây khoảng 2 triệu rưỡi năm được đưa vào vận hành, khai thác; người dân huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) mới tin chuyện “tạo sự sống trong lòng cái chết” đã trở thành hiện thực.


Vì người dân biển đảo
Vượt xe máy lên con dốc “dựng đứng” dài 600 m, đứng trước hồ chứa nước Thới Lới, tôi không thể không choáng ngợp trước thiên nhiên vừa mạnh mẽ, vừa dịu dàng. Mặc dù đã tắt cách đây khoảng 2 triệu rưỡi năm, thế nhưng những khối nham thạch làm nên ngọn núi Thới Lới nằm trên địa bàn thôn Đông, xã An Hải (Lý Sơn) vẫn còn cho thấy sự dữ dội khi ngọn núi lửa này phun trào.

 Và giờ đây, giữa lòng chảo của khối nham thạch khổng lồ ấy, dòng nước trong xanh in bóng mây trời bảng lảng trôi trông mới thi vị làm sao. Đúng như lời Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Quảng Ngãi Nguyễn Mậu Văn nói trước khi tôi đến đây: “Không chỉ là xi măng, sắt thép, hồ chứa nước Thới Lới còn được xây dựng nên bởi tình cảm sâu nặng của những nhà chức trách trong ngành nông nghiệp Việt Nam và của chính quyền tỉnh Quảng Ngãi dành cho người dân biển đảo Lý Sơn”.

Thấu đảo nỗi khổ thiếu nước sinh hoạt và nước phục vụ sản xuất của người dân huyện đảo tiền tiêu, từ năm 1989, khi tỉnh Nghĩa Bình (cũ) được tách thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định, lãnh đạo tỉnh Quảng Ngãi khi ấy đã chỉ đạo ngành chức năng lập dự án đầu tư xây dựng hồ chứa nước Thới Lới, nằm trong quy hoạch thủy lợi của tỉnh nhằm hứng nước trời phục vụ nước sinh hoạt và sản xuất cho người dân Lý Sơn.

Tuy nhiên, sau đó dự án này chỉ dừng lại ở mức “ý tưởng”, vì mối lo ngại xây dựng hồ chứa nước ngay trên miệng núi lửa chẳng khác nào hứng nước để rồi “trút” vào lòng núi vì sự thẩm thấu của nó. Nếu còn sót lượng nước nào trong lòng hồ, chắc chắc sẽ bị cái nắng gió khắc nghiệt giữa biển khơi làm bốc hơi, vắt kiệt.
Con đập chắn hồ Thới Lới
Để làm rõ mối lo này, Bộ NN-PTNT cùng với chính quyền tỉnh Quảng Ngãi và các nhà khoa học quyết tâm vào cuộc. Những cuộc khảo sát địa vật lý, khảo sát địa chất công trình và những kiểm định tại hiện trường được các nhà khoa học đồng loạt triển khai, kết quả được trình Bộ NN-PTNT kiểm tra, thẩm định.

Sau khi chứng minh nước hứng được trong hồ sẽ không bị thẩm thấu vào lòng núi, Bộ NN-PTNT mới thỏa thuận công trình đảm bảo được yêu cầu giữ nước. Đến năm 2003, dự án đầu tư xây dựng hồ chứa nước Thới Lới chính thức được UBND tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt. Suốt 14 năm trông chờ, người dân huyện đảo Lý Sơn mới nhìn thấy tia hy vọng.

“Khi khoan khảo sát địa chất, các nhà khoa học nhận thấy ở dưới lòng hồ có tầng đất sét dày. Bản thân tầng đất sét này đã trữ nước, thì không có chuyện nước trong lòng hồ thẩm thấu vào lòng núi. Đây chính là niềm tin khả thi của công trình hồ chứa nước Thới Lới. Tuy nhiên, phải đến 7 năm sau, công trình này mới được bố trí vốn”, ông Nguyễn Mậu Văn nói.

Giọt nước, giọt vàng
Trước kia, lòng chảo của miệng núi lửa Thới Lới có 1 đoạn trống, để làm thành hồ chứa, phải xây đập chắn đoạn miệng chảo trống này lại. Con đập này được xây dựng dài 202 m, cao 11 m, rộng 1,6 m. Hoàn thành, hồ Thới Lới có dung tích chứa 270 m3 nước.

Nếu hồ chứa đầy nước, nguồn thủy lợi quý giá này có trọng trách cấp nước tưới cho 60 ha đất trồng tỏi, cấp nước sinh hoạt cho 1.000 người dân xã An Hải và cấp nước ngọt cho khoảng 300 tàu thuyền đánh cá.

Xây dựng 1 hồ thủy lợi có quy mô “bé tẹo” với ít ỏi hạng mục như hồ Thới Lới kể trên, nếu thực hiện dưới đồng bằng thì đó là “chuyện muỗi”. Thế nhưng khi thực hiện trên đỉnh ngọn núi lửa có độ cao 149 m so mặt nước biển thì quả là gian nan.

Ông Hồ Huỳnh Khương, Phó Giám đốc Ban quản lý Dự án đầu tư và thủy lợi Quảng Ngãi, cho biết: “Để xây dựng công trình hồ Thới Lới cần đến 3.000 khối cát; 2.000 tấn xi măng; 6.800 m3 đá dăm, đá hộc và 100 tấn sắt... Toàn bộ số lượng vật tư kể trên đều được lấy từ thành phố Quảng Ngãi rồi vận chuyển dần sang đảo Lý Sơn”.

Riêng khoản vận chuyển vật tư chỉ mới nghe thôi đã thấy mướt mồ hôi. Vật tư được chuyển dần từng chuyến xe từ thành phố ra cảng Dung Quất. Rồi từ bến cảng chuyển xuống xà lang, từ xà lang vận chuyển ra cảng dân sự của huyện đảo Lý Sơn. Vật tư được đưa xuống tập kết tại dọc bờ biển thuộc bến cảng cách địa điểm xây dựng hồ 5 km, sau đó được “cõng” lên đỉnh núi Thới Lới.

“Lúc trời yên biển lặng thì xà lan còn chở được kha khá, nếu trời gió cấp 5 cấp 6 thì chỉ dám chở rất ít. Với chặng đường biển dài 20 hải lý, những chiếc xà lan nặng nề phải đi mất 2 ngày mới tới Lý Sơn, gian nan không kể xiết. Do đó, công trình nhỏ là vậy nhưng phải xây dựng 18 tháng ròng rã mới hoàn thành”, ông Khương nói.

Tháng 5/2012, hồ Thới Lới được đưa vào sử dụng, kịp phục vụ tưới cho 60 ha tỏi tại cánh Đồng Khô thuộc xã An Hải trong vụ đông xuân 2012-2013, hiệu quả trông thấy. Ngay cái tên Đồng Khô của vùng tỏi rộng 60 ha cũng đã nói được sự khát nước triền miên của vùng đất này.

Vùng Đồng Khô không đóng được giếng, nếu đóng được giếng nào cũng sâu hun hút. Muốn đủ nước tưới cho 1 sào tỏi phải mất 3 giờ bơm, mỗi giờ chi phí 170.000đ, vị chi mỗi lần tưới 1 sào tỏi ngốn hết 500.000đ. Vụ đông xuân vừa rồi, 60 ha trồng tỏi ở Đồng Khô ăn được nước hồ Thới Lới. Người trồng tỏi chỉ còn trả chi phí cho 1 khối nước là 5.000đ, tưới đủ nước cho 1 sào tỏi bây giờ chỉ mất 50.000đ/lần tưới, giảm đến 10 lần chi phí.

“Không chỉ vậy, trước đây do được tưới bằng nước bị nhiễm mặn nên cây tỏi ở Đồng Khô cho năng suất rất thấp, chất lượng tỏi cũng kém. Bây giờ được “ăn” nước ngọt tinh khiết được lấy từ trời, năng suất được tăng từ 40 tạ/ha lên đến trên 60 tạ/ha. Bình thường, tỏi trồng ở Đồng Khô 100 củ mới đạt 1 kg, bây giờ 30 củ đã đạt 1 kg, chất lượng tỏi cũng trở nên ngon hơn”, ông Mai Văn Sơn, Chủ tịch UBND xã An Hải, cho biết.

Từ hồ Thới Lới, có 12 km đường ống nhựa gồm đường ống chính và ống nhánh đưa nước xuống đến khu tưới. Nhiệm vụ khai thác hồ được Sở NN-PTNT giao cho UBND xã An Hải đảm trách. Khác với nhiều mô hình quản lý công trình cấp nước ở nhiều địa phương khác; công tác quản lý, khai thác hồ Thới Lới được tổ chức rất chặt chẽ.

“Tổ quản lý, khai thác hồ Thới Lới của xã do cán bộ phụ trách nông-lâm-ngư làm tổ trưởng. Nước được dẫn về hồ thấp dưới chân núi, nơi có 24 van xả cấp nước trực tiếp về đồng tỏi. Quản lý mỗi van cấp nước là 1 tổ thủy nông, mỗi tổ đảm trách 300 m đường ống nhánh. Ngoài cấp nước, các tổ này còn có trách nhiệm thu phí của người sử dụng. Mô hình quản lý từng khối nước nói trên đã nói lên tinh thần tiết kiệm nước rất cao.

 Với người trồng tỏi ở Lý Sơn, mỗi giọt nước là mỗi giọt vàng. Nhờ quản lý chặt nguồn nước là vậy, nên dù trong năm 2012 và 6 tháng đầu năm 2013 vừa qua trên địa bàn Lý Sơn vắng mưa, nước chứa được trong hồ rất ít nhưng vẫn đủ tưới cho 60 ha tỏi suốt vụ đông xuân, sang vụ xuân hè còn tưới được cho mấy chục ha hành trong giai đoạn đầu. Hiện trong lòng hồ cũng còn được 1,5 m nước”, ông Chủ tịch UBND xã An Hải Mai Văn Sơn, cho biết.

"Hồ chứa nước Thới Lới ngoài mang lại hiệu quả kinh tế còn tạo được niềm tin trong nhân dân về sự quan tâm đặc biệt đối với người dân biển đảo của Nhà nước. Từ hiệu quả của hồ Thới Lới, UBND huyện Lý Sơn đang xin Nhà nước đầu tư xây dựng thêm hồ chứa nước trên miệng núi lửa Giếng Tiền nằm ngay chùa Đục thuộc địa bàn xã An Vĩnh. Nếu được, niềm nui của dân đảo Lý Sơn sẽ được nhân đôi”, ông Nguyễn Mậu Văn, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Quảng Ngãi.
VŨ ĐÌNH THUNG

Theo báo Nông nghiệp

Thứ Ba, 13 tháng 8, 2013

Búa đóng cọc Diesel kiểu treo, lắp trên máy cơ sở là cần trục bánh xích

Búa đóng cọc điêzel là loại búa hoạt động theo nguyên lý va đập, nó được cấu từ hai bộ phận chính là: quả búa và giá búa.

Khi đóng cọc quả búa được đặt ngồi trực tiếp lên đầu cọc tạo xung lực nhấn cọc xuống nền. Giá búa có nhiệm vụ dẫn hướng cọc, quả búa và thực hiện các thao tác khác như: cẩu búa, cẩu cọc, đưa chỉnh cọc về vị trí đóng.
Búa đóng cọc Diesel kiểu treo, lắp trên máy cơ sở là cần trục bánh xích
* Quả búa điêzel :
Quả búa điêzel làm việc theo nguyên lý động cơ đốt trong hai kỳ. Theo cấu tạo nó được chia làm hai loại: ống dẫn và cột dẫn

- Loại ống dẫn dùng để đóng cọc thép và cọc bê tông cốt thép loại lớn, do cấu tạo đặc biệt : tỷ số nén thấp (e = 15) hành trình của pittông lớn lên khả năng tạo ra lực xung kích khi đóng cọc lớn, ngoài ra quá trình cháy hỗn hợp xảy ra ngay sau khi đầu pittong đập vào đầu búa do đó quá trình cháy sẽ tạo thêm xung lực lớn đóng cọc vào nền.

- Loại cột dẫn, loại này có tỷ số nén cao (e = 30) sử dụng bơm nhiên liệu áp lực cao, dùng để đóng các loại cọc gỗ và BTCT loại nhỏ

* Giá búa:
Là thiết bị dùng để phục vụ các thao tác đóng cọc: cẩu cọc, chỉnh cọc, cẩu và dẫn hướng quả búa khi đóng cọc. Trên thực tế giá búa được sử dụng rất đa dạng, tuỳ thuộc vào công nghệ đóng cọc.

a/ Giá búa ghép trên máy cơ sở
Thiết bị được lắp thêm vào một máy cơ sở sẵn có nào đó, thường là cần trục bánh xích hoặc cần trục bánh lốp, thiết bị lắp thêm vào là phần dẫn hướng quả búa khi cần đóng cọc. Sử dụng giá búa loại này rất tiện lợi, tiết kiệm đầu tư do có thể sử dụng máy cơ sở vào việc khác.

Máy cơ sở được chọn thường là cần trục bánh xích hoặc cần trục ôtô. Các loại máy này phải thoả mãn các kỹ thuật đóng cọc, ngoài ra cần trục phải có tối thiểu hai tời nâng để khi chuyển sang chế độ giá búa thì một tời dùng để nâng quả búa, một tời để nâng cọc. Dẫn hướng quả búa được thực hiện nhờ một tháp đặt thẳng đứng làm bằng dàn thép hay ống thép. Tháp này được liên kết với cần trục nhờ khớp bản lề ở chốt đầu cần và chân cần qua thanh giữ, dọc thân tháp có hai thanh dẫn hướng cho búa. Phần đỉnh tháp là dàn puly dẫn hướng cho cáp cẩu cọc và cẩu búa. Kích thước của nó được chế tạo sao cho cáp nâng búa luôn song song với thanh dẫn hướng. Dọc hai bên tháp còn bố trí thang để phục vụ khi thi công đóng cọc cũng như khi sửa chữa bảo dưỡng .

b/ Giá búa được cấu tạo trên máy cơ sở:
Là thiết bị đóng cọc được thiết kế và chế tạo trên một máy cơ sở (máy kéo, cần trục, máy xúc... ). Trên cơ sở sử dụng nguồn năng lượng, các kết cấu của máy cơ sở người ta cải tạo và cấu tạo thêm một số bộ phận như: khung gầm, hệ thống thuỷ lực, hệ thống điều khiển cho phù hợp với yêu cầu  làm việc của giá búa. Sự cải tạo này không ảnh hưởng tới đến chức năng chính của máy, do đó cũng như giá búa ghép trên máy cơ sở sử dụng loại giá búa này rất tiện lợi và kinh tế.

c/ Giá búa chuyên dùng:
Là thiết bị được thiết kế chế tạo chuyên dùng để đóng cọc, giá búa đơn giản nhất là giá búa cố định, tháo lắp nhanh có thể đóng được cọc có chiều dài đến 12 m. Giá búa điện di chuyển trên đường ray có thể đóng được các loại cọc có chiều dài và khối lượng lớn, loại này cũng được dùng khá phổ biến ở nước ta. Ngoài ra còn có các loại giá búa chuyên dùng khác như giá búa lắp trên phao nổi đóng cọc dưới nước phục vụ thi công các công trình đường thuỷ, cảng… các giá búa này có loại rất lớn còn được gọi là tàu đóng cọc có thể đóng được cọc dài đến 70 m không nối.


http://www.quangtay.com

Chủ Nhật, 11 tháng 8, 2013

Nhớ mùa nước lũ

Lại một mùa nước nổi sắp về với vùng đất miền Tây Nam Bộ. Ngoài chợ, người ta đã bắt đầu bày bán cá linh non, một sản vật mà thiên nhiên ban tặng cho người dân đồng bằng sông Cửu Long vào mùa nước lũ tràn đồng. Song những mùa lũ gần đây rất khác so với ngày xưa. Gần như lũ không về, có lẽ do những công trình đê bao rồi đập thủy điện gây ra… Cá tôm cũng theo đó mà vơi dần. Bây giờ, nếu muốn ngắm nhìn những cánh đồng nước lũ trắng xóa có lẽ chúng ta phải tìm về nơi thượng nguồn như Hồng Ngự, Tân Hồng… thì may ra còn nhìn thấy.
Lúc bé, Mùa lũ về là cả cánh đồng phía sau nhà tôi bao trùm một màu trắng xóa của nước, một màu xanh của mây trời. Mẹ lại rủ tôi bơi xuồng đi hái bông điên điển, hái bông súng trắng về nấu canh chua cá linh. Mùa nước lũ về cánh đồng sẽ xuất hiện nhiều loài cây mới. Nhiều nhất là điên điển, rồi bông súng trổ bông trắng cả cánh đồng, rồi thì cây rong, cây mã đề,…

Tôi thích nhất là được bơi xuồng đi chợ với mẹ. Gà vừa gáy sáng mẹ đã đánh thức tôi dậy để băng đồng nước lũ ra chợ Bình Tiên. Mùa nước lũ về thì đoạn đường mà tôi và mẹ phải bơi được rút ngắn phân nửa. Vì khi không có lũ thì phải bơi vòng một đoạn xa lắm mới tới được chợ. Hai mẹ con cùng bơi, tôi ngồi bơi mũi, mẹ bơi lái. Tôi thì cứ nghịch nước, hái rong, đuổi chim đuổi cò nên hầu như chỉ mình mẹ bơi. Cái xuồng ba lá nhỏ xíu xiu cứ băng băng vượt đồng nước giữa buổi sớm tinh sương như thế. Rồi khi xuồng ra khỏi Vàm Bà Việt hòa cùng sông lớn thì mẹ luôn miệng dặn dò tôi “Tới sông cái rồi đó. Ngồi cho đàng hoàng. Khỉ khọt chìm xuồng là chết như chơi nghen con”. Trước những cơn sóng lớn, tôi khép nép ngồi bó gối vì sợ. Đến chợ Bình Tiên mẹ buộc xuồng ở một bến sông quen rồi lên bờ đi chợ. Tôi ngồi giữ xuồng mà cứ trông cho mẹ mau xuống. Vì mẹ đi chợ sẽ có quà bánh. Khi là vài viên kẹo, khi là cái bánh da lợn, khi là cái bánh bông lan. Dáng mẹ tôi ngày xưa gầy gầy cùng bộ quần áo cũ sì, khâu vá nhiều chỗ. Nói thật ngày xưa nhà tôi nghèo hơn chữ nghèo, cực khổ trăm bề thế mà thấy vui, thấy ấm áp, thấy hạnh phúc.
Nhớ có lần cũng vào một ngày mưa tầm tả, con đường đất phía trước nhà trở nên lầy lội rất khó đi. Năm ấy tôi học lớp 9 trường thị xã. Không thể chạy xe đạp trên con đường trơn trợt ấy nên mẹ quyết định đưa tôi và con ngựa sắt băng cánh đồng nước lũ để tôi kịp buổi học. Tôi còn nhớ như in dáng mẹ còng lưng bơi giữa những cơn mưa rát da rát thịt và những cơn gió ngược thổi ập vào mặt. Mẹ trong chiếc áo mưa mỏng tang vẫn hì hụi bơi và bơi nhích từng chút một. Tôi thì ngồi ôm chiếc xe đạp nên không thể làm gì để phụ mẹ. Lúc ấy tôi thấy thương mẹ vô cùng, hai mắt tôi đã đỏ vì nước mưa hay nước mắt tôi cũng không biết nữa. Mẹ ơi! Con trai sẽ không bao giờ quên công ơn của mẹ, sẽ không bao giờ quên ký ức của ngày mưa lũ năm xưa. Ngày hôm ấy tôi trễ học nhưng tôi không hề buồn mà trái lại tôi thấy mình hạnh phúc vì có được tình thương của mẹ.
Mùa nước lũ cũng là thời gian những vườn táo của Bác Tư, bác Năm vào mùa chín rộ. Chúng tôi thường bơi xuồng ra hái trộm những trái táo hồng vàng ươm, ngọt lịm. Có bữa gặp chị Tí giữ vườn thì bọn trẻ chúng tôi sẽ được chị kể cho nghe những câu chuyện cổ tích. Thích lắm. Buổi tối trên đồng lũ ngày xưa rất vui. Cả cánh đồng tràn ngập ánh đèn của các anh các chú đi giăng câu giăng lưới. Thỉnh thoảng lại vang lên những câu hò, những bài vọng cổ làm ấm lên cả một không gian bao l a toàn sóng và nước.

Đó là những kỉ niệm về mùa nước lũ ngày xưa mà tôi sẽ không bao giờ quên. Những kỉ niệm một thời mà chẳng thể nào tìm lại được. Tất cả chỉ còn là ký ức !
http://viettruyen.vn

Thứ Sáu, 9 tháng 8, 2013

Code add-ins nội suy một chiều, hai chiều cho excel.

Code add-ins nội suy một chiều, hai chiều cho excel.
Toàn bộ code VB tạo add-ins nội suy một chiều phương ngang (N1N), nội suy một chiều phương đứng (N1D) và nội suy hai chiều N2C cho excel. Để sử dụng luôn tải file tại đây (pass thuyloivn.com)

Function N1N(vungtra As Range, X As Double, cot As Integer) As Double
'ham noi suy 1 chieu phuong ngang
Dim ktra As Boolean
Dim i As Integer
Dim x1 As Double, x2 As Double, y1 As Double, y2 As Double
    For i = 1 To vungtra.Cells.Count
    kiemtra = False
        If vungtra.Cells(i, 1) <= X And vungtra.Cells(i + 1, 1) > X Then
            x1 = vungtra.Cells(i, 1)
            x2 = vungtra.Cells(i + 1, 1)
            y1 = vungtra.Cells(i, cot)
            y2 = vungtra.Cells(i + 1, cot)
            N1N = (y2 - y1) * (X - x1) / (x2 - x1) + y1
            ktra = True
        Exit For
        End If
    Next i
If ktra = False Then
If MsgBox("www.thuyloivn.com: Gia tri can tim ko nam trong bang tra", vbOKOnly, "ThS. Doan Ngoc Tu") = vbOK Then
End
End If
Exit Function
End If
End Function

Function N1D(vungtra As Range, Y As Double, hang As Integer) As Double
'ham noi suy 1 chieu phuong dung
Dim ktra As Boolean
Dim i As Integer
Dim x1 As Double, x2 As Double, y1 As Double, y2 As Double
    For j = 1 To vungtra.Cells.Count
    kiemtra = False
        If vungtra.Cells(1, j) <= Y And vungtra.Cells(1, 1 + j) > Y Then
            y1 = vungtra.Cells(1, j)
            y2 = vungtra.Cells(1, j + 1)
            x1 = vungtra.Cells(hang, j)
            x2 = vungtra.Cells(hang + 1, j)
            N1D = (x2 - x1) * (Y - y1) / (y2 - y1) + x1
            ktra = True
        Exit For
        End If
    Next j
If ktra = False Then
If MsgBox("www.thuyloivn.com: Gia tri can tim ko nam trong bang tra", vbOKOnly, "ThS. Doan Ngoc Tu") = vbOK Then
End
End If
Exit Function
End If
End Function

Function N2C(vungtra As Range, X As Double, Y As Double) As Double
'ham noi suy 2 chieu
Dim ktra As Boolean
Dim i As Integer, j As Integer
Dim x1 As Double, x2 As Double, y1 As Double, y2 As Double
Dim a11 As Double, a12 As Double, a21 As Double, a22 As Double
Dim t1 As Double, t2 As Double
For j = 2 To vungtra.Cells.Count

    If vungtra.Cells(1, j) <= Y And vungtra.Cells(1, j + 1) > Y Then
            y1 = vungtra.Cells(1, j)
            y2 = vungtra.Cells(1, j + 1)
            For i = 2 To vungtra.Cells.Count
            ktra = False
                If (vungtra.Cells(i, 1) <= X And vungtra.Cells(i + 1, 1) > X) Then
                    x1 = vungtra.Cells(i, 1)
                    x2 = vungtra.Cells(i + 1, 1)
                    a11 = vungtra.Cells(i, j)
                    a12 = vungtra.Cells(i, j + 1)
                    a21 = vungtra.Cells(i + 1, j)
                    a22 = vungtra.Cells(i + 1, j + 1)
                    t1 = (a12 - a11) * (Y - y1) / (y2 - y1) + a11
                    t2 = (a22 - a21) * (Y - y1) / (y2 - y1) + a21
                    N2C = (t2 - t1) * (X - x1) / (x2 - x1) + t1
                Exit For
                End If
            Next i
            ktra = True
    Exit For
    End If
Next j

If ktra = False Then
If MsgBox("www.thuyloivn.com: Gia tri can tim ko nam trong bang tra", vbOKOnly, "ThS. Doan Ngoc Tu") = vbOK Then
End
End If
Exit Function
End If
End Function
Đoàn Ngọc Tứ

Bố thủ khoa ĐH Y đang sống trong... cống hoang kiếm tiền nuôi con ăn học

(Soha.vn) - Hơn 10 năm, bác Nguyễn Hữu Định bố của thủ khoa ĐH Y Nguyễn Hữu Tiến sống tạm bợ, lúc ở vỉa hè dựng lều lán, thậm chí nơi ở chỉ là một chiếc cống bỏ hoang để bươn trải kiếm sống nuôi con học đại học.

Gặp bác Nguyễn Hữu Định là bố của em Nguyễn Hữu Tiến – thủ khoa ĐH Y Hà Nội 29,5 điểm trong một ngày mưa bão ở “quán” sửa xe nhỏ, sơ sài trên đường Lê Văn Lương kéo dài.

Hỏi chuyện về công việc của bác, bác khẽ thở dài, khuôn mặt đăm chiêu thật thà nói: “Hôm nay cháu có đến đây mới hiểu được hoàn cảnh của nhà tôi. Tôi chẳng nói dối làm gì, có ai biết 10 năm nay làm thuê, bơm vá, sửa xe đạp ngoài thành phố mà chẳng biết đến nhà trọ, quạt điện, đèn điện là như thế nào, cứ sống nhờ vả, dặt dẹo thế này thôi”.

Nói đến đây, bác dừng lại vội đứng dậy chỉ cho tôi chỗ ở hiện nay của mình. Bác nói đây là ‘nhà’ của bác 7 tháng nay.
Chỗ ở được bác Định thiết kế để làm nơi che mưa, che nắng những ngày tháng làm ở thành phố.
10 năm oằn mình nuôi… 4 người con ăn học
Bác Nguyễn Hữu Định (sinh năm 1961) ở thôn Động Phú, xã Phương Tú, huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội không giấu nổi vui mừng khi nói về hai cậu con trai sinh đôi sinh năm 1995 đỗ đại học Y Hà Nội và ĐH Bách khoa Hà Nội với số điểm cao.

Cụ thể, em Nguyễn Hữu Tiến vừa là thủ khoa 29,5 điểm Trường ĐH Y Hà Nội, vừa đỗ ĐH Dược với số điểm 27. Và em trai là Nguyễn Hữu Tiền đỗ ĐH Bách khoa (khối A, 26 điểm); thi ĐH Y Hà Nội với số điểm 25 điểm.

Trước Tiến còn có 1 người chị đang học năm cuối ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn; người chị thứ 2 học năm thứ 3 CĐ Xây dựng trên Hà Nội.

Để cho các con được ăn học đầy đủ, người cha nghèo Nguyễn Hữu Định lăn lộn ngoài thành phố làm nghề bơm vá, sửa xe đạp, ai thuê gì làm nấy hơn 10 năm nay.

“Tôi làm nghề tự do, bấp bênh lắm, làm gì có thu nhập ổn định. Ngày nắng, đông khách được hơn trăm nghìn, ngày mưa vắng khách thì chẳng được đồng nào. Như hôm nay, từ sáng làm gì có khách hả cháu, ngày nào may mắn ai thuê bốc vác thì thêm được dăm ba chục. Thôi thì cứ lo cho chúng nó ăn học, có vay nợ cả đời, làm thuê cũng được”, bác Định tâm sự.

Công việc bấp bênh, nơi ở tạm bợ, xập xệ, lúc ngủ vỉa hè, ngủ nhờ chốt bảo vệ tòa nhà, ở gầm cầu,… đến nhà vệ sinh công cộng hay tươm tất hơn là dựng lều lán ở tạm.
Người cha hơn 10 năm bươn trải ngoài thành phố nuôi con học đại học. Bác Nguyễn Hữu Định vui mừng khi nhắc đến hai người con sinh đôi cùng đỗ đại học với điểm số cao.
Tôi sửng sốt khi đó chỉ là chiếc cống bỏ hoang được bác ‘thiết kế’ thành chỗ ngủ mà bác gọi đó là ‘nhà’. Chiếc cống được che đậy bằng tấm gỗ công trường bỏ đi bác mang về chắp vá thành cửa che nắng, che mưa.

Bác kể: “Hơn 10 năm nay dặt dẹo ngoài thành phố làm thuê. Ăn một nơi, ngủ một nơi, nghỉ một nơi, phải đi nhờ vả chứ làm gì có tiền thuê nhà ở”.

Bác tâm sự về mấy năm trước làm nghề sửa xe từ Cầu Giấy, đường Láng rồi đến đường Lê Văn Lương, nhiều lần không có chỗ ngủ, gặp trận mưa to phải ngủ nhờ phòng để đồ của nhà vệ sinh công cộng có hơn 1 mét vuông mà hai người nằm, chân co lại không thể chuyển mình.
Hay nỗi vất vả của những lần ngủ vỉa hè, bác phải chờ đến 9, 10 giờ tối mới dám ngủ, đến 4h sáng dậy vì sợ người ta đi lại nhiều.

Cuộc sống khó khăn là thế nhưng bác Định vẫn có một niềm tin bởi có những người con ham học, ngoan ngoãn.

Niềm tự hào của người cha có 4 con học đại học
Nhắc đến hai cậu con trai sinh đôi với đôi mắt tự hào, bác Định kể rằng, "mừng vì hai anh em thằng Tí (Tiến, Tiền – PV) hiếu học. Nhiều lúc về nhà, thấy 1 giờ sáng mà chúng vẫn ngồi trên bàn học, tôi cứ mắng nó “học nhiều mụ đầu, loạn chữ” nhưng chúng không chịu.

Bàn học của hai đứa lúc nào cũng thấy sách vở, đi học về là thấy cầm sách để học, trao đổi với nhau. Hàng xóm láng giềng kể, hai anh em nó đi chăn bò ngoài đồng, đạp xe đi học vẫn thấy chúng cầm sách, vở tranh thủ học.

Năm lớp 10 thằng Tiến phải mổ ruột thừa ở bệnh viện huyện, bác sĩ nói cháu phải ở viện 5 ngày để điều trị, lành vết thương nhưng nó không chịu, khóc mếu đòi về nhà để đi học. Tôi thương nên đành cho nó về".

Bác Định còn kể rằng, bản thân hai em rất thương bố mẹ, chăm chỉ giúp đỡ bố mẹ như chăn bò, cấy gặt… “Nhiều lần, trưa 12h đi học về chúng nó lại đạp xe ra đồng cấy cho mẹ nó, hai anh em bảo cấy được cây nào hay cây đó. Chúng cấy khéo, nhanh mà chịu thương chịu khó, không chơi bời chỉ chú tâm vào học.

Thương con học đêm khuya vất vả, bà nhà tôi mua cho thùng mì tôm ăn đỡ đói. Nhiều lần, nửa đêm tôi còn thấy chúng nó ra ngoài sân vận động chân tay để tránh cơn buồn ngủ rồi vào học tiếp”, bác Định xúc động nói.

Biết hoàn cảnh nhà mình nghèo, hai anh em phấn đấu học, từ nhỏ đến lớn, Tiến và Tiền đều là học sinh xuất sắc, có thành tích cao trong học tập, được bạn bè yêu mến, thầy cô tin tưởng.
“Hai đứa đều thật thà, chất phác, khiêm tốn, thằng Tiến đỗ thủ khoa mà có nói với tôi đâu, hai thằng thi điểm cao mà chẳng nói với ai. Hỏi nó không nói, cứ bảo chưa có điểm, đến khi báo chí đưa tin, thầy giáo chủ nhiệm, chị gái nó báo về, hai vợ chồng tôi mới biết nó thủ khoa 29,5 điểm”, bác Định tâm sự thật.

Làm đến lúc chết để con được học đại học
Năm nay bác Định đã 52 tuổi, bác nói rằng không nghĩ đến chuyện “nghỉ hưu” vì sắp tới 2 người con trai của bác cũng sẽ học đại học. Hai vợ chồng bác, người vặt vịt thuê cả đêm ở quê, người kiếm dăm ba chục ở thành phố nói có “làm đến lúc chết” cũng chỉ mong con đỗ đạt, có tấm bằng đại học, có công ăn việc làm để thoát nghèo.

Được biết, ở quê, bác Thanh – vợ bác Định một mình cấy hái 9 sào ruộng, đi vặt lông vịt thuê ở gần nhà từ 12 giờ đêm đến 8 giờ sáng với thù lao 2500 đồng/ con kiếm đồng ra đồng vào.
Hai anh em sinh đôi Tiến và Tiền là người chịu thương, chịu khó và ham học.
Bác Định nhìn xa buồn rầu nói: “Con nhà người khác học đại học trên thành phố về nhà thăm bố mẹ thì mừng, con nhà này về mình lại lo vì không có tiền cho con. Tôi vẫn nói với hai anh em nó cố gắng nhiều hơn nữa trong trường đại học, thủ khoa chỉ là một chuyện, đại học còn nhiều thử thách hơn”.

Căn nhà gần 20 mét vuông ở quê của bác Định ngập tràn sự tự hào, lời chúc mừng của họ hàng, bà con làng xóm dành cho hai anh em sinh đôi. Nhưng đằng sau niềm vui, hạnh phúc ấy là nỗi lo “cơm áo gạo tiền”, niềm trăn trở mưu sinh của người cha nghèo nuôi mẹ già 93 tuổi và 4 người con học đại học trên thành phố.

Bài đăng phổ biến