Thứ Tư, 25 tháng 11, 2015

Thành phần hạt của đất và tiêu chuẩn thiết kế vật liệu lọc

Như đã biết, thành phần hạt của đất là hàm lượng các nhóm hạt có độ lớn khác nhau ở trong đất được biểu diễn bằng tỷ lệ phần trăm so với khối lượng của mẫu đất khô tuyệt đối đã lấy để phân tích. Đặc trưng thành phần hạt thường được biểu diễn dưới dạng đồ thị bán logarithm. Bài viết này sẽ thảo luận về ý nghĩa và đặc điểm thành phần hạt của đất mà chúng ta có thể suy ra từ đồ thị thành phần hạt. Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ đề cập đến những chỉ tiêu cần quan tâm khi thiết kế cấp phối cho vật liệu tầng lọc.
Các dạng của đường cong thành phần hạt
Hình dưới đây phác họa các dạng khác nhau của đường cong cấp phối (sử dụng sàng tiêu chuẩn Anh).
H. 1. Các dạng đường cong thành phần hạt
Đường A: Đường có độ dốc lớn, chứng tỏ khoảng biến đổi cỡ hạt nhỏ hay nói cách khác, các hạt đất không khác nhau nhiều về kích thước. Vậy đất sẽ có cấp phối kém (poorly-graded); Thành phần chiếm nhiều nhất rơi vào cỡ hạt từ 0.2 đến 0.6 mm (khoảng trên 60 %) tức cát vừa (medium SAND). Vậy có thể gọi đất là CÁT hạt vừa, cấp phối kém (poorly-graded medium SAND).
Đường B: Thoải hơn nhiều so với đường A, độ dốc nhỏ, đất sẽ có cấp phối tốt (well-graded); Thành phần gồm hai cỡ hạt sỏi sạn (gravel) và cát (sand), nhưng phần gravel chiếm nhiều hơn (khoảng 60 %). Vậy có thể gọi đất là SỎI/SẠN CÁT cấp phối tốt (well-graded SANDY GRAVEL). Chú ý: Danh từ Gravel thể hiện phần chiếm chủ yếu trong khi đó Sandy – tính từ – thể hiện phần thứ yếu.
Đường C: Tương tự đường B, có độ dốc nhỏ, đất sẽ là vật liệu cấp phối tốt (well-graded); Thành phần chiếm nhiều là cát, phần ít hơn (khoảng 20 %) là bụi. Vậy có thể gọi đất là CÁT bụi, cấp phối tốt (well-graded silty SAND).
Với cách phân tích tương tự, ta có thể suy ra:

Đường D: sandy SILT.
Đường E: silty CLAY.
Với hai loại đất có thành phần cấp phối như đường D và E, để phân loại và gọi tên đất cần kết hợp với các chỉ tiêu giới hạn chảy và chỉ số dẻo như đã nêu trong bài “Đồ thị phân loại đất hạt mịn …” và sẽ được nêu một cách toàn diện và chi tiết trong bài về phân loại và gọi tên đất trong xây dựng sau này.

Hệ số đồng đều và hệ số độ dốc
Để định lượng đặc trưng cấp phối, người ta đưa ra các khái niệm:

D10 = Đường kính mà những hạt nhỏ hơn chiếm 10 % (hay cỡ hạt tương ứng với 10 % trên đường cong tích lũy, như chỉ ra trên hình 2);
D30 = Đường kính mà những hạt nhỏ hơn chiếm 30 %;
D60 = Đường kính mà những hạt nhỏ hơn chiếm 60 %.
Từ những giá trị này, tính toán các chỉ tiêu cấp phối sau:

Hệ số đồng đều (hay còn gọi hệ số đồng nhất, đều hạt) – Uniformity coefficient: Thôi thì họi thế nào thì gọi nhưng công thức tính là:
Cu = D60/D10

Hệ số độ dốc (có sách viết hệ số đường cong) – Coefficient of gradation (có chỗ viết Coefficient of curvature):
Cg hoặc Cc = (D30)^2/(D60 x D10).

Những hệ số này được sử dụng để phân loại và gọi tên đất hạt thô mà chúng tôi sẽ đề cập sau.
H. 2. Các chỉ tiêu cấp phối
Thiết kế vật liệu tầng lọc
Trong xử lý đất yếu bằng bấc thấm (PVD) hoặc thiết kế giếng bơm nước, thường phải thiết kế tầng lọc (filter layer). Vật liệu lọc phải đảm bảo cho nước thoát qua nhưng cản được hạt mịn. Khi thiết kế cần tuân theo những nguyên tắc và dựa vào những đặc trưng cấp phối sau của đất cần bảo vệ:

Trong những tính toán dưới đây không tính đến phần hạt lớn hơn 19 mm.
Tầng lọc không được chứa hạt lớn hơn 80 mm.
Tầng lọc có thành phần hạt mịn (< 0.075 mm) không nhiều hơn 5 %.
Đường cong cấp phối của vật liệu lọc nên có hình dáng tương tự đường cong cấp phối của đất.
Đường kính D15 (tương tự định nghĩa D10 ở trên) của tầng lọc nằm trong khoảng 4 lần D15 và 4 lần D85 của đất, tức 4 x D15 (đất) < D15 (tầng lọc) < 4 x D85 (đất).
Đường cong cấp phối thiết kế vật liệu tầng lọc như minh họa trên hình dưới đây.
H. 3. Thiết kế vật liệu tầng lọc
(Nguồn: http://www.x-use.com/thanh-phan-hat-cua-dat-va-tieu-chuan-thiet-ke-vat-lieu-loc/)

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

TP.HCM muốn vay 7.900 tỷ đồng để nạo vét sông Soài Rạp giai đoạn 3

Ủy ban Nhân dân thành phố vừa đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư xem xét, hỗ trợ vận động nguồn vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi đầu tư khác cho dự án Nạo vét luồng Soài Rạp (giai đoạn 3) với tổng mức đầu tư 7.900 tỷ đồng (tương đương 380 triệu USD).

Việc đầu tư nạo vét nhằm hoàn tất đầu tư luồng Soài Rạp theo Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư, tạo đà phát triển cho khu đô thị cảng Hiệp Phước và cụm cảng Thành phố Hồ Chí Minh.

Dự án nhằm đầu tư nạo vét, nâng cấp mở rộng luồng tàu và hệ thống phao tiêu báo hiệu đáp ứng nhu cầu tiếp nhận tàu có trọng tải 50.000DWT (đầy tải) và trên 50.000DWT (giảm tải) ra vào các khu cảng dọc sông Soài Rạp; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh lân cận và phát triển hoàn chỉnh hệ thống cảng biển trên sông Soài Rạp. 
Thi công nạo vét luồng Soài Rạp giai đoạn 2.
Trước đó, dự án Nạo vét luồng Soài Rạp (giai đoạn 2) sử dụng vốn vay ODA từ Chính phủ Bỉ đã hoàn thành, đưa vào khai thác, có thể tiếp nhận tàu có trọng tải đến 30.000DWT và 50.000DWT giảm tải, đang mang lại hiệu quả về kinh tế rất lớn cho thành phố.

Theo định hướng Quy hoạch phát triển giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn sau năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh là cảng tổng hợp quốc gia, đầu mối khu vực; trong đó khu bến Hiệp Phước là khu bến tổng hợp, chuyên dùng phát triển thay thế các bến hiện có trên sông Sài Gòn, là đầu mối tiếp chuyển hàng xuất nhập khẩu cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long, tiếp nhận tàu trọng tải đến 50.000DWT, tàu container có sức chở 4.000TEU.

Liên quan đến các dự án sử dụng vốn vay ODA, theo Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, hiện thành phố theo dõi 15 dự án đang triển khai thực hiện với tổng vốn đầu tư gần 110.000 tỷ đồng, trong đó vốn ODA là 93.420 tỷ đồng.

Trong 9 tháng đầu năm 2015, giải ngân vốn ODA của các dự án đạt 65% kế hoạch vốn được giao.

Về dự án trọng điểm, dự án cải thiện môi trường nước Thành phố Hồ Chí Minh lưu vực kênh Tàu Hủ - Bến Nghé - Đôi - Tẻ (giai đoạn 2) trong quý 3 giải ngân được 312 tỷ đồng, trong đó vốn ODA giải ngân được 284 tỷ đồng, đạt 19% so với Hiệp định vay đã ký (hết hạn vào ngày 31/1/2017).

Dự án tuyến metro số 1 (Bến Thành - Suối Tiên) trong quý ​3 giải ngân được gần 632 tỷ đồng, vốn ODA là 540 tỷ đồng, đạt 55,6% so với Hiệp định vay đã ký (ngày hết hạn là 1/12/2019). Trong khi đó, dự án tuyến metro số 2 (Bến Thành - Tham Lương) giải ngân được gần 53 tỷ đồng trong quý ​3/2015 (vốn ODA đạt 47,5 tỷ đồng).

Hiện nay Ban Quản lý Đường sắt đô thị (chủ đầu tư) đang hoàn thiện hồ sơ thiết kế nền tảng, đồng thời thực hiện các thủ tục để tổ chức thẩm tra theo ý kiến của Bộ Giao thông Vận tải./.
Tác giả bài viết: TRẦN XUÂN TÌNH

Nguồn tin: TTXVN/Vietnam+

Thứ Ba, 3 tháng 11, 2015

Khi nào thì phải tính toán tải trọng Động đất

Tiêu chuẩn TXCDVN 375:2006 và nay là TCVN 9386:2012 quy định về các trường hợp cần thiết hoặc không cần thiết phải tính toán kháng chấn cho các công trình thông qua hai tiêu chí đánh giá, đó là: mức độ quan trọng và gia tốc nền thiết kế

Mức độ quan trọng
Phụ lục F của TCXDVN 375:2006 quy định về các mức độ và hệ số tầm quan trọng của công trình, trong đó các công trình có mức độ quan trọng cấp IV thì không phải tính toán kháng chấn
Phụ lục G của TCXDVN 375:2006 có phân cấp mức độ quan trọng trọng của công trình theo quy mô, theo đó thì các công trình nhà ở (chung cư và nhà ở độc lập) bé hơn hoặc bằng 3 tầng và có diện tích sử dụng bé hơn 1000m2 đều thuộc vào cấp IV, tức là không phải thiết kế kháng chấn.
Khi các công trình có mức độ quan trọng cao hơn (cấp I, II, III), thì việc có cần thiết phải tính toán kháng chấn hay không phục thuộc vào tiêu chí còn lại, đó là: gia tốc nền thiết kế

Gia tốc nền thiết kế
Gia tốc nền thiết kế a_g = (đỉnh giả tốc nền theo địa danh hành chính) * (hệ số tầm quan trọng tra trong phụ lục F); mục 3.2.1(4) và 3.2.1.(5) quy định về các trường hợp không phải tính toán kháng chấn, theo đó khi a_g < 0.08*g = 0.78 m/s2 tác động động đất được xem là yếu và không cần thiết phải tính toán tải trọng động đất
Tác giả: Hồ Việt Hùng

Thứ Ba, 20 tháng 10, 2015

Địa chỉ website các Sở Tài nguyên và Môi trường

2.Hải Phòng: http://haiphong.gov.vn
13.Lạng Sơn: http://tnmtlangson.gov.vn
14.Tuyên Quang: http://tnmttuyenquang.gov.vn
15.Yên Bái: http://tnmt.yenbai.gov.vn
16.Thái Nguyên: http://www.tnmtthainguyen.gov.vn
17.Phú Thọ: http://tnmtphutho.gov.vn
18.Vĩnh Phúc: http://tnmtvinhphuc.gov.vn
19.Bắc Giang: http://www.tnmtbacgiang.gov.vn
20.Bắc Ninh: http://bacninh.gov.vn/sobannganh/SoTaiNguyenMoiTruong
21.Quảng Ninh: http://www.quangninh.gov.vn/vi-VN/so/sotainguyenmt
22.Lai Châu: http://sotnmt.laichau.gov.vn
23.Điện Biên: http://tnmtdienbien.gov.vn/
24.Sơn La:
25.Hoà Bình: http://tnmthoabinh.gov.vn
26.Thanh Hóa: http://stnmt.thanhhoa.gov.vn
27.Nghệ An: http://nghean.gov.vn/wps/portal/sotnmt
28.Hà Tĩnh: http://tnmthatinh.gov.vn/
29.Quảng Bình: http://tnmtquangbinh.gov.vn
30.Quảng Trị: http://stnmt.quangtri.gov.vn
31.Thừa Thiên Huế: http://stnmt.hue.gov.vn
32.Đà Nẵng: http://www.tnmt.danang.gov.vn
33.Quảng Nam: http://www.tnmtquangnam.gov.vn
34.Quảng Ngãi: http://www.quangngai.gov.vn/sotnmt
35.Bình Định: http://stnmt.binhdinh.gov.vn
36.Phú Yên: http://www.sotnmtphuyen.gov.vn
37.Khánh Hòa: http://www.tnmtkhanhhoa.gov.vn
38.Kon Tum: http://stnmt.kontum.gov.vn
39.Gia Lai: http://stnmt.gialai.gov.vn
40.Đắk Lắk: http://tnmt.daklak.gov.vn
41.Đắk Nông: http://stnmt.daknong.gov.vn
42.Thành phố Hồ Chí Minh: http://www.donre.hochiminhcity.gov.vn
43.Lâm Đồng: http://stnmt.lamdong.gov.vn
44.Ninh Thuận: http://sotnmt.ninhthuan.gov.vn
45.Bình Phước: http://tnmtbinhphuoc.gov.vn
46.Tây Ninh: http://sotnmt.tayninh.gov.vn
47.Bình Dương: http://stnmt.binhduong.gov.vn
48.Đồng Nai: http://www.tnmtdongnai.gov.vn
49.Bình Thuận: http://www.binhthuan.org.vn
50.Bà Rịa - Vũng Tàu: http://tnmtbariavungtau.gov.vn
51.Long An: http://tnmt.longan.gov.vn
52.Đồng Tháp: http://www.stnmt.dongthap.gov.vn
53.An Giang: http://sotainguyenmt.angiang.gov.vn
54.Tiền Giang: http://stnmt.tiengiang.gov.vn
55.Tỉnh Vĩnh Long: http://www.stnmt.vinhlong.gov.vn
56.Bến Tre: http://www.sotnmt-bentre.gov.vn
57.Kiên Giang: http://tnmt.kiengiang.gov.vn
58.Cần Thơ: http://cantho.gov.vn/wps/portal/sotnmt
59.Hậu Giang: http://stnmt.haugiang.gov.vn
60.Trà Vinh: http://www.travinh.gov.vn/wps/portal/stnmt
61.Sóc Trăng: http://www.sotnmt.soctrang.gov.vn
62.Bạc Liêu: http://stnmt.baclieu.gov.vn

63.Cà Mau: http://sotnmt.camau.gov.vn

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2015

Thiết kế 1 bước, 2 bước và 3 bước là gì?

Đây là 3 câu hỏi thường gặp đối với các bạn làm về  quản lý dự án, thẫm định và tư vấn thiết kế. Nếu các bạn phân biệt được 3 khái niệm này thì sẽ định hướng và có phương pháp tốt hơn trong quá trình làm việc.

Bài viết này, tôi sẽ giúp cho các bạn nắm rõ một cách tổng quát 3 bước thiết kế trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Căn cứ vào nghị định về Quản Lý Dự Án đầu tư xây dựng công trình số 12/2009/NĐ – CP

Thiết kế 1 bước là thiết kế bản vẽ thi công được áp dụng đối với công trình chỉ lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình. Trong trường hợp này, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công được gộp lại thành một bước và gọi là thiết kế bản vẽ thi công.

Thiết kế 2 bước bao gồm các bước thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công, được áp dụng đối với các công trình quy định lập dự án, trừ công trình lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật. Trong trường hợp này, thiết kế bản vẽ kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công gộp lại thành một bước gọi là thiết kế bản vẽ thi công.


Thiết kế 3 bước bao gồm bước thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công, được áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án. Tuỳ vào mức độ phức tạp của công trình, việc thực hiện thiết kế 3 bước do người quyết định đầu tư quyết định.

Độ chặt K của đất đắp (hệ số đầm nén) là gì?

Độ chặt K của đất đắp (hệ số đầm nén) là gì?
Độ chặt K của đất đắp là tỉ số giữa dung trong khô thiết kế yêu cầu của đất đắp (yo) so với dung trong khô lớn nhất (ymax) đạt được trong phòng thí nghiệm của chính loại đất đó, bằng thí nghiệm đầm proctor tiêu chuẩn ứng với đất dính có d≤4,76mm và bằng đầm proctor cải tiến với đất thô có thành phần hạt d>4,76mm (trích 9.17 TCVN 8297-2012).

Phương pháp xác định hệ số K như thế nào?
Về cách xác định hệ số K được thực hiện theo TCVN 8730 – 2012, theo đó có 3 cách xác định:
1 – Phương pháp dao vòng lấy mẫu.
2 – Phương pháp hố đào, dùng cát tiêu chuẩn thế chỗ.
3 – Phương pháp hố đào, dùng nước thế chỗ.
www.thuyloivn.com

Mối nguy từ đập của Trung Quốc: Cần xây dựng hệ thống cảnh báo sớm

Trước mối nguy từ đập của Trung Quốc, việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm là một giải pháp cho vấn đề điều tiết việc xả lũ từ phía Trung Quốc.

Trả lời Thanh Niên về giải pháp điều tiết để tránh xảy ra tình trạng xả lũ đột ngột ở thượng lưu, TS Dương Văn Ni, Trường ĐH Cần Thơ, cho biết: “Trung Quốc không tham gia bất cứ tổ chức nào liên quan đến nguồn nước nên chúng ta không có cơ chế nào để ràng buộc họ.
Lũ sông Hồng dâng cao trong ngày 11.10, nhấn chìm toàn bộ bãi bồi và hoa màu ven sông ở Lào Cai và các địa phương dọc theo sông Hồng - Ảnh: Khánh Vân
Cụ thể như LHQ có Công ước về luật Sử dụng các nguồn nước quốc tế cho mục đích phi giao thông thủy (Công ước 1997) hay sông Mê Kông có Ủy hội sông Mê Kông thì Trung Quốc đều không tham gia. Ngay cả khi Trung Quốc tham gia Công ước quốc tế về luật Biển thì họ cũng hành xử theo cách của họ như thực tế đang diễn ra trên biển.

Như vậy, về mặt nội tại, chúng ta chỉ còn cách duy nhất là xây dựng các hệ thống cảnh báo sớm ở khu vực biên giới. Hệ thống này sẽ phát tín hiệu khi mực nước diễn biến bất thường. Nhưng đây chỉ là giải pháp mang tính đối phó”.

Cần có cơ chế hợp tác
Nhìn nhận câu chuyện ứng phó xả lũ thượng nguồn sông Hồng, TS Đào Trọng Tứ, cố vấn Mạng lưới sông ngòi VN, cho rằng quan trọng nhất vẫn là cơ chế pháp lý cấp quốc gia giữa VN và Trung Quốc về trao đổi thông tin khí tượng thủy văn, cũng như quản lý dòng chảy trên các dòng sông. Nhưng đây là việc lớn cần có thời gian giải quyết lâu dài.

Còn ở địa phương biên giới đang có những con sông lưu vực nằm cả trên lãnh thổ VN và Trung Quốc, như Lai Châu có sông Đà, Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng… các địa phương chủ động có hợp tác ở cấp tỉnh, mục tiêu quan trọng nhất là nắm được thông tin về khí tượng thủy văn làm cơ sở xây dựng giải pháp ứng phó trong các tình huống khác nhau.

Cũng theo TS Đào Trọng Tứ, nếu hợp tác chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp trao đổi thông tin thì chỉ giải quyết được tính chất xảy ra đột ngột như xả lũ trên sông Hồng vừa qua, phía VN sẽ không bị động bất ngờ. Nhưng để có giải pháp ứng phó mang tính chủ động, giữa VN và Trung Quốc phải xây dựng và thống nhất được các kịch bản xả lũ trên thượng lưu sông Hồng trong các tình huống thiên tai cực đoan để chủ động ứng phó. Ở góc độ kỹ thuật, theo TS Đào Trọng Tứ, các quốc gia nằm ở khu vực hạ lưu các con sông mà đi xây dựng các công trình ngăn, chống lũ không phải là giải pháp tối ưu.

Theo thông tin từ Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia, Bộ TN-MT của VN và Bộ Tài nguyên nước phía Trung Quốc đã ký biên bản ghi nhớ về chia sẻ số liệu thủy văn của lưu vực sông Hồng, phía Trung Quốc gọi là sông Nguyên. Cụ thể từ ngày 15.5 - 15.10 hằng năm, Cục Thủy văn và tài nguyên nước tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) đều chia sẻ số liệu thủy văn trên thượng lưu sông Nguyên tại 5 trạm đo thuộc tỉnh Vân Nam là: Nguyên Giang, Mạn Hảo, Trung Ái Kiều, Thổ Khả Hà và Kim Giang.

Theo đó, các thông tin này được trao đổi qua đường thư điện tử, cụ thể về các số liệu quan trắc về lượng mưa, mực nước và lưu lượng nước đo lúc 0 giờ và 12 giờ GMT hằng ngày, tức là 8 giờ và 20 giờ Bắc Kinh, tương ứng 7 giờ và 19 giờ Hà Nội. Còn phía VN cung cấp cho Trung Quốc số liệu thủy văn trong mùa mưa lũ của lưu vực sông Bằng Giang, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng là thượng nguồn sông Zuojiang của Trung Quốc tại các trạm thủy văn Bằng Giang (Cao Bằng) và TP Lạng Sơn, Vân Mịch (Lạng Sơn) đo lúc 0 giờ và 12 giờ GMT, tức là lúc 7 giờ và 19 giờ tại Hà Nội, tương đương 8 giờ và 20 giờ Bắc Kinh. Hai bên thống nhất trao đổi thông tin ít nhất 2 lần/ngày và trong các trường hợp lượng mưa, mực nước vượt giá trị bình thường sẽ tăng cường cung cấp các thông tin bổ sung.

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia cũng kiến nghị Chính phủ cần đẩy mạnh thiết lập cơ chế trao đổi thông tin phòng chống thiên tai Trung Quốc ở cấp quốc gia, cùng với các nước ngồi lại với nhau để tìm ra giải pháp thật sự cho vấn đề này.


Chí Nhân - Phan Hậu

Bài đăng phổ biến